- Tranh chấp gì? "Văn Duy T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Văn Duy T.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2022/QĐ-TA | Đak Đoa, ngày 17 tháng 5 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Đoàn Xuân Hòa.
2. Thư ký phiên họp: Ông Vũ Đức Quang.
Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2022/QĐ-TA ngày 10 tháng 5 năm 2022 đối với:
Họ và tên: Văn Duy T, tên gọi khác: Không
Sinh ngày: 20/02/1998.
Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn hoá: 10/12; Nghề nghiệp: Làm Nông.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 3, xã T, huyện Đ, tỉnh G.
Nơi cư trú: Thôn 3, xã T, huyện Đ, tỉnh G.
Tiền án: Không; tiền sự: Không
Con ông: Văn Phú C, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1974 (đã chết).
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Trọng Hà – Chức vụ: Chuyên viên phụ trách công tác phòng chống tệ nạn xã hội - Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đ (Theo văn bản ủy quyền số 03/UQ-LĐTBXH ngày 16/5/2022).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G: Bà Đoàn Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Văn Duy T là đối tượng có nơi cư trú ổn định tại Thôn 3, xã Tân Bình, huyện Đ, tỉnh G. Ngày 01/12/2021 T sử dụng ma túy, loại ma túy đá đã bị Ủy ban nhân dân xã T ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình số: 09/QĐ – UBND ngày 20/2/2022, thời hạn cai nghiện là06 tháng (từ ngày 20/02/2022 đến ngày 20/8/2022). Trong thời gian cai nghiện ma túy tại nhà, thì vào ngày 04/5/2022 Công an xã T, huyện Đ mời Văn Duy T lên Công an xã T làm việc và T đã khai nhận là vào ngày 03/5/2022 T có sử dụng ma túy, qua xét nghiệm nước tiểu phát hiện T dương tính ma túy loại Mop + Met và cùng ngày 04/5/2022 Công an xã T, huyện Đ lập biên bản vi phạm “Về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế” số: 01/BB-VPHC ngày 04/5/2022. Ngày 04/5/2022 Ủy ban nhân dân xã Tân Bình có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Văn Duy T.
* Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Văn Duy T với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
- Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Văn Duy T với thời hạn từ 14 tháng đến 20 tháng.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến phát biểu của cơ quan đề nghị.
XÉT THẤY:
Về thẩm quyền xem xét, quyết định; thời hiệu áp dụng:
Văn Duy T là đối tượng có nơi cư trú ổn định tại Thôn 3, xã Tân Bình, huyện Đ, tỉnh G. Ngày 01/12/2021 T sử dụng ma túy, loại ma túy đá đã bị Ủy ban nhân dân xã T ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình số: 09/QĐ – UBND ngày 20/2/2022, thời hạn cai nghiện là là 06 tháng (từ ngày 20/02/2022 đến ngày 20/8/2022). Trong thời gian cai nghiện ma túy tại nhà, thì vào ngày 04/5/2022 Công an xã T, huyện Đ mời Văn Duy T lên Công an xã T làm việc và Trung đã khai nhận là vào ngày 03/5/2022 T có sử dụng ma túy, qua xét nghiệm nước tiểu phát hiện T dương tính ma túy loại Mop + Met và cùng ngày 04/5/2022 Công an xã T, huyện Đ lập biên bản vi phạm “Về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế” số: 01/BB-VPHC ngày 04/5/2022. Ngày 04/5/2022 Ủy ban nhân dân xã T có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Văn Duy T.
Do đó, việc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh G chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Văn Duy T và Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G thụ lý xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Văn Duy T là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Và ngày 06/5/2022, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G thụ lý hồ sơ để xem xét, quyết định là đảm bảo về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
Hồ sơ có đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại Điều 40, 41 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Về nội dung xem xét, quyết định:
Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính; phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy của cơ quan có thẩm quyền và các tài liệu khác có tại hồ sơ nên đã đủ cơ sở kết luận: Văn Duy Tlà đối tượng có nơi cư trú ổn định, là đối tượng nghiện ma túy, đã trên 18 tuổi và đã bị áp dụng cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình mà vẫn còn nghiện ma túy như đã nêu trên. Hành vi nêu trên của Văn Duy T đã vi phạm Khoản 3 Điều 3, Khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Khoản 1, 16 Điều 2; Khoản 1 Điều 96 và Điểm a Khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Nhận thấy, Văn Duy T có đủ nhận thức để nhận biết hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật về quản lý Nhà nước về chất ma túy nhưng vẫn cố tình sử dụng. Hành vi này của Văn Duy T không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏa bản thân mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh của nhiều tội phạm khác. Quá trình giải quyết vụ việc, tuy đối tượng Trung đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, nhưng do Trung là người nghiện ma túy, đã bị áp dụng cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình mà vẫn còn nghiện ma túy như đã nêu trên là xem thường pháp luật nên cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Văn Duy T một thời gian dài để chữa bệnh, giáo dục Văn Duy T trở thành công dân có ích cho xã hội.
Từ những phân tích trên, Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa đề nghị của đại diện phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh G về việc đưa Văn Duy T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có cơ sở nên được chấp nhận. Do đó Văn Duy T đã có tiền sử, sử dụng ma túy nhiều lần, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện ma túy nên xét thấy cần thiết đưa Văn Duy T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Văn Duy T một thời gian dài hơn thời hạn mà Viện kiểm sát đề nghị để chữa bệnh, giáo dục T trở thành công dân có ích cho xã hội.
Căn cứ vào các Điều 7, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và Điều 108 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 49 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020;
Căn cứ Khoản 3 Điều 3, Khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy;
Căn cứ Điều 3, 22, 23, 24, 30, 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ Điều 40,41,42,43 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Văn Duy T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng. Thời hạn chấp hành biện pháp xử lý hành chính tính từ ngày 10/5/2022 (theo Biên bản giao, nhận hồ sơ, người bị quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc giữa Công an xã T, huyện Đ và Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh G ngày 10/5/2022).
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Đ có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án. Riêng đối với đối tượng Văn Duy T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Công an huyện Đ, tỉnh G và Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện ma túy tỉnh G có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - Phòng LĐTB và XH huyện Đ; - Công an huyện Đ; - UBND nơi đăng ký HKTT; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh G; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đoàn Xuân Hòa |