vanban.org

Quyết định 03/2021/QĐST-VHNGĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C

Cháu Nguyễn Thị H được bà được bà Neàng G sinh ra tại Trung tâm Y tế huyện An phú ngày 03/8/2020 là con ruột của ông Nguyễn Văn C. Ông Nguyễn Văn C và bà Neàng G được đ ng tên cha, mẹ đăng ký khai sinh cho cháu Nguyễn Thị H theo quy định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "QĐ Nguyễn Văn Chủng (VHN)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C
  • Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 03/2021/QĐST-VHNGĐ
V/v “Yêu cầu xác định cha
cho con”.
An Phú, ngày 10 tháng 6 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ T NH AN GIANG

Thành phần giải quyết việc hôn nhân và gia đình gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Văn Sáu.

Thư ký phiên họp: Ông Huỳnh Minh Nhựt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên họp: Ông Huỳnh Minh Triết - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 03/2021/TLST-VHNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2021 về việc “Yêu cầu xác nhận cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình số 328/2021/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp P, xã PH, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Neàng G, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp P, xã PH, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

2. Cháu Nguyễn Thị H, sinh ngày 03/8/2020 (đang sống cùng bà G và ông C tại ấp P, xã PH, huyện An Phú, tỉnh An Giang).

Tại phiên họp, ông C và bà G vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu không tham gia phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN:

Theo đơn yêu cầu, trình bày của ông Nguyễn Văn C và tài liệu, ch ng c k m theo, nội dung vụ việc như sau:

Ông Nguyễn Văn C và bà Neàng G tự tìm hiểu, chung sống với nhau như vợ chồng vào khoảng năm 2018. Ngày 03/8/2020 bà Neàng G sinh được một bé gái đặt tên Nguyễn Thị H. Sau đó ông C và bà G đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phú Hội cấp Giấy ch ng nhận kết hôn số 09 ngày 08/02/2021.

Ngày 18/02/2021, ông C đến Ủy ban nhân dân xã Phú Hội đăng ký khai sinh cho con tên Nguyễn Thị H, sinh ngày 03/8/2020 nhưng bị từ chối, với lý do: Trong thời gian bà G mang thai cháu H, bà G chưa có quyết định ly hôn với ông Nguyễn Văn T, nên ông C yêu cầu Tòa án xác định ông là cha của cháu Nguyễn Thị H, sinh ngày 03/8/2020 để ông thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu H.

Theo bà Neàng G, Năm 2009 bà có kết hôn với ông Nguyễn Văn T. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn. Năm 2015 bà về nhà cha mẹ ruột sinh sống và ly thân với ông T. Khoảng năm 2018 bà quen biết với ông Nguyễn Văn C, sau đó mang thai và sinh cháu H vào ngày 03/8/2020 tại Trung tâm Y tế huyện An Phú. Năm 2020 bà làm thủ tục ly hôn với ông T. Ngày 15/12/2020 Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang ban hành Bản án số 481/2020/HNGĐ-ST cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

Về tài liệu, ch ng c :

Ông Nguyễn Văn C giao nộp: Bản sao Sổ Hộ khẩu chủ hộ mang tên Nguyễn Văn L; bản sao Ch ng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn C; bản sao Giấy ch ng sinh ngày 03/8/2020 của Trung tâm Y tế huyện An Phú; bản sao Phiếu Kết quả xét nghiệm AND ngày 10/5/2021 của Trung tâm Công nghệ Di truyền Việt Nam; Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 481/2021/HNGĐ-ST ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện An Phú.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định loại việc, tiến hành thu thập ch ng c , tiến hành mở phiên họp đúng quy định của pháp luật; thành phần tiến hành phiên họp không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung: Theo trình bày của ông Nguyễn Văn C và các tài liệu ch ng c có trong hồ sơ, có căn c xác định cháu Nguyễn Thị H, sinh ngày 03/8/2020 tại Trung tâm Y tế huyện An Phú là con của ông Nguyễn Văn C và bà Neàng G.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên c u các tài liệu, ch ng c có trong hồ sơ việc hôn nhân được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:

Về tố tụng:

Về quyền yêu cầu: Theo các tài liệu, ch ng c và trình bày của ông Nguyễn Văn C, có căn c xác định việc xác định cha cho cháu Nguyễn Thị H có trực tiếp liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông C và cháu Nguyễn Thị H, nên ông C có quyền yêu cầu theo quy định tại khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về việc vắng mặt: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định mở phiên họp, ông Nguyễn Văn C, bà Neàng G có đơn yêu cầu không tham gia phiên họp. Xét việc vắng mặt của ông C và bà Neàng G không ảnh hưởng đến việc xem xét yêu cầu của ông C, nên tiến hành mở phiên họp là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Văn C có đơn yêu cầu xác nhận cha cho con. Ông C, bà G, cháu H cư trú xã Phú Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang thụ lý, giải quyết yêu cầu của ông C là phù hợp quy định tại các điều 29, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Theo trình bày của ông C, bà G thì ông C bà G đã chung sống như vợ chồng từ khoảng năm 2018. Thời gian này bà G đang có mối quan hệ hôn nhân theo quy định của pháp luật (hôn nhân pháp lý) với ông Nguyễn Văn T. Tuy nhiên, trên thực tế thì bà G và ông T đã ly thân từ năm 2015. Tình tiết này đã được các đương sự thừa nhận và được nhận định trong Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 481/2021/HNGĐ-ST ngày 15/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, nên tình tiết này không phải ch ng minh.

Theo kết quả xét nghiệm AND ngày 10/5/2021 của Trung tâm Công nghệ Di truyền Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh thì mẫu AND của ông Nguyễn Văn C và mẫu AND của cháu Nguyễn Thị H có quan hệ huyết thống cha – con, với tần suất 99,999984%.

Như vậy, theo Giấy ch ng sinh ngày 03/8/2020 của Trung tâm Y tế huyện An phú; lời khai của ông Nguyễn Văn C và bà Neàng G; Kết quả xét nghiệm AND ngày 10/5/2021 của Trung tâm Công nghệ Di truyền Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, có căn c xác định, Cháu Nguyễn Thị H được bà Neàng G sinh ra tại Trung tâm Y tế huyện An phú ngày 03/8/2020 là con chung của bà Neàng G và ông Nguyễn Văn C.

Từ những căn c nêu trên, xác định cháu Nguyễn Thị H, sinh ngày 03/8/2020 là con ruột của ông Nguyễn Văn C.

Về chi phí tố tụng:

Do ông Nguyễn Văn C không có đơn xin miễn lệ phí. Do đó ông Nguyễn Văn C phải chịu lệ phí theo quy định.

Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ đoạn 3 khoản 1 Điều 88; khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ các điều 371, 372 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C

1. Cháu Nguyễn Thị H được bà được bà Neàng G sinh ra tại Trung tâm Y tế huyện An phú ngày 03/8/2020 là con ruột của ông Nguyễn Văn C.

2. Ông Nguyễn Văn C và bà Neàng G được đ ng tên cha, mẹ đăng ký khai sinh cho cháu Nguyễn Thị H theo quy định.

3. Ông nguyễn Văn C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng T lệ phí sơ thẩm. Số T lệ phí được khấu trừ vào T tạm ng lệ phí mà ông C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo Biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2019/0007150 ngày 26/5/2021. (Ông C đã nộp đủ).

4. Ông Nguyễn Văn C, bà Neàng G có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc từ ngày Quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định (ngày 10 tháng 6 năm 2021).

Cỡ chữ