vanban.org

Quyết định 03/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cô Ri N.

Tuyên bố anh Nguyễn Văn Trí L, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp T, xã Ph, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp mất tích. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo: Chị Nguyễn Thị Cô Ri N tự nguyện chịu chi phí đăng, phát thông báo với tổng số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), chị N đã nộp đủ chi phí cho việc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "N-L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cô Ri N.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN HỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG THÁP
Số: 03/2021/QĐST-VDS
Tân Hồng, ngày 10 tháng 3 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Bé Hương.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Bá Hồng Tân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên họp: Ông Lê Công Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2020/TLST-VDS ngày 06 tháng 10 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2021/QĐST-VDS ngày 01 tháng 3 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Nguyễn Thị Cô Ri N, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Ấp T, xã Ph, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn Trí L, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Ấp T, xã Ph, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu cũng như tại phiên họp sơ thẩm chị Nguyễn Thị Cô Ri N trình bày: Vào năm 2013, chị N và anh L cưới nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph vào ngày 15-3-2013. Trong quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Văn Duy Kh, sinh ngày 05-10-2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng đến tháng 11-2013 chị N và anh L thường xảy ra mâu thuẫn nên anh L đã bỏ nhà đi từ tháng 11-2013 đến nay không biết tung tích, từ đó đến nay chị N đã tìm kiếm và trình báo Công an nhưng không có tin tức của anh L. Tháng 8-2019, chị N làm đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh L và được Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng ra quyết định số 05/2019/QĐST-DS ngày 10-9-2019 về việc Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú với nội dung: “Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cô Ri N về việc yêu cầu Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Nguyễn Văn Trí L, sinh năm 1989, nơi cư trú cuối cùng: Ấp T, xã Ph, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp”. Sau khi có quyết định của Tòa án, chị N đã yêu cầu đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Nguyễn Văn Trí L nhưng vẫn không có tin tức của anh L.

Nay chị Nguyễn Thị Cô Ri N yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn Trí L, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp T, xã Ph, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp mất tích để chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh L.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự đều đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung giải quyết việc dân sự: Xét thấy Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú số 05/2019/QĐST-DS ngày 10-9-2019 đối với anh Nguyễn Văn Trí L, đồng thời theo xác nhận của Công an xã Ph, huyện Tân Hồng ngày 05-10-2020 có nội dung như sau: Nguyễn Văn Trí L, sinh năm 1989 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã Ph, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, đến tháng 11-2013 thì bỏ địa phương đi đâu không rõ, hiện nay không có mặt tại địa phương là đúng sự thật. Đã thông báo tìm kiếm đầy đủ theo quy định nhưng đến nay vẫn không có tin tức về anh L, như vậy anh L đã biệt tích từ tháng 11-2013 đến nay nên yêu cầu của chị N là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng áp dụng Điều 363, Điều 365 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 68 của Bộ luật Dân sự để chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cô Ri N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp nhận định:

Về tố tụng: Xét đơn của chị Nguyễn Thị Cô Ri N yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với anh Nguyễn Văn Trí L là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Chị Nguyễn Thị Cô Ri N với anh Nguyễn Văn Trí L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện Tân Hồng vào ngày 15-3-2013 (Theo trích lục kết hôn số: 19/TLKH-BS ngày 23-02-2018 của Ủy ban nhân dân xã Ph mà chị N giao nộp cho Tòa án), do đó chị Nguyễn Thị Cô Ri N có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với anh Nguyễn Văn Trí L, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp T, xã Ph, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo quyết định số: 05/2019/QĐST-DS ngày 10-9-2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng đã chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cô Ri N về việc yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Nguyễn Văn Trí L, sinh năm 1989, nơi cư trú cuối cùng: Ấp T, xã Ph, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp. Xác nhận vào ngày 05-10-2020 của ông Hồ Văn G và bà Nguyễn Thị R là những người sống gần nhà anh L và chị N có nội dung: Từ cuối năm 2013 đến nay anh L đã bỏ địa phương không rõ đi đâu và hiện nay anh L không có mặt tại địa phương. Xác nhận ngày 05-10-2020 của Công an xã Ph, huyện Tân Hồng có nội dung: Đương sự Nguyễn Văn Trí L, sinh năm 1989 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã Ph, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, đến tháng 11-2013 thì đương sự bỏ địa phương đi đâu đến hiện nay không có mặt tại địa phương là đúng sự thật.

Nội dung Quyết định số: 02/2020/QĐ-TA ngày 23-10-2020 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Nguyễn Văn Trí L đã được đăng tin trên báo Công lý 03 số liên tiếp và phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp, đồng thời cũng được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp và Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp nhưng đã quá 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng anh L không về địa chỉ: Ấp T, xã Ph, huyện Tân Hồng và cũng không liên hệ với Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng để giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị N đối với anh L, ngoài ra thì cũng không có ai khác biết được tin tức về anh L.

Từ những phân tích trên, xét thấy có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cô Ri N về việc yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Văn Trí L, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp T, xã Ph, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp mất tích theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Dân sự.

Về nghĩa vụ chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo: Chị Nguyễn Thị Cô Ri N là người yêu cầu đăng, phát thông báo và tự nguyện chịu chi phí đăng, phát thông báo với tổng số tiền là 3.000.000 đồng (theo 02 hóa đơn giá trị gia tăng ngày 26-10-2020 và ngày 06-11-2020), chị N đã nộp đủ chi phí cho việc đăng, phát thông báo.

Về nghĩa vụ chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải chịu lệ phí sơ thẩm không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận đơn yêu cầu của họ, trừ trường hợp không phải chịu lệ phí Tòa án hoặc được miễn nộp tiền lệ phí Tòa án theo quy định của Nghị quyết này”, vậy chị Nguyễn Thị Cô Ri N phải chịu 300.000 đồng lệ phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: BH/2018/0008826 ngày 05-10-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, chị Nguyễn Thị Cô Ri N đã nộp đủ lệ phí.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng tại phiên họp cũng phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, các điều 144, 149, 369, 370, 371, 372, 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cô Ri N.

Tuyên bố anh Nguyễn Văn Trí L, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp T, xã Ph, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp mất tích.

Chi phí cho việc đăng, phát thông báo: Chị Nguyễn Thị Cô Ri N tự nguyện chịu chi phí đăng, phát thông báo với tổng số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), chị N đã nộp đủ chi phí cho việc đăng, phát thông báo.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Cô Ri N phải chịu 300.000 đồng lệ phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: BH/2018/0008826 ngày 05-10-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, chị Nguyễn Thị Cô Ri N đã nộp đủ lệ phí.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định (Ngày 10-3-2021).

Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ