vanban.org

Quyết định 03/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Căn cứ Điều 35 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, ông Chu Văn Qu phải chịu 300.

Người yêu cầu, ông Chu Văn Qu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chu Văn Qu yêu cầu tuyên bố mất tích đối với Nguyễn Thị T"
  • Tòa quyết gì? Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Căn cứ Điều 35 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, ông Chu Văn Qu phải chịu 300.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BUÔN ĐÔN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03 /2021/QĐST-VDS
Ngày 05 /11/2021
Buôn Đôn, ngày 05 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN,TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Hối.

Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Thanh Thủy– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tham gia phiên họp:

Ông Y Rin Niê Kđăm– Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2021/TLST-VDS ngày 08 tháng 6 năm 2021 về yêu cầu “tuyên bố một người mất tích”. Theo quyết định mở phiên họp số: 01 /2021/QĐST- VDS ngày 26 tháng 10 năm 2021.

Gồm người tham gia tố tụng:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Chu Văn Qu – Sinh năm 1966

Địa chỉ: Thôn 15, xã E B, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu ngày 07/6/2021, ông Chu Văn Qu trình bày: ông và bà Nguyễn Thị T chung sống với nhau như vợ chồng từ 1984, không đăng ký kết hôn, đến năm 1995 ông bà chuyển vào sinh sống và đăng ký hộ khẩu tại thôn 15, xã E B, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

Từ ngày 06/5/2018 vì điều kiện kinh tế khó khăn bà Nguyễn Thị T đã bỏ đi khỏi địa phương, biệt tích, không liên lạc được cho đến nay. Ông Chu Văn Qu yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị T. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu.

Ngày 21 tháng 6 năm 2021 Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã ra “Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích” đối với bà Nguyễn Thị T.

Ngày 25 tháng 6 năm 2020, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã làm thủ tục thông báo trên Báo Công lý ba số liên tục và trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần liên tiếp đối với bà Nguyễn Thị T. Ngày đầu tiên Đài tiếng nói Việt Nam thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích bà Nguyễn Thị T là ngày 25/6/2021.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn nhận định:

Bà Nguyễn Thị T bỏ đi khỏi địa phương biệt tích liên tục không liên lạc được từ ngày 06/5/2018 (có xác nhận của Công an xã E B) cho đến khi ông Chu Văn Qu gửi đơn đã hơn 02 năm.

Ông Chu Văn Qu sống chung với bà Nguyễn Thị T từ năm 1984 không đăng ký kết hôn. Ông Qu có quyền yêu cầu tuyên bố mất tích với bà Nguyễn Thị T theo khoản 3 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã làm các thủ tục cần thiết về việc Thông báo người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị T theo quy định tại các Điều 384, 385, 388 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn, ông Y Rin Niê Kđăm, kiểm sát viên, phát biểu tại phiên họp:

Quá trình giải quyết việc dân sự từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, Thẩm phán và thư ký đã áp dụng đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu ông Chu Văn Qu đã chấp hành đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, các Điều 361, 369, 384, 385, 387, 388, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự, đề nghị Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Nguyễn Thị T– sinh năm 1968, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 15, xã E B, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Căn cứ Điều 35 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, ông Chu Văn Qu phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.

Cần chấp nhận đơn yêu cầu của ông Chu Văn Qu, chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tham gia phiên họp, căn cứ vào các Điều 387, 388, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên bố một người mất tích đối với bà Nguyễn Thị Tý – sinh năm 1968, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 15, xã E B, huyện Buôn , tỉnh Đắk Lắk.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, các Điều 361, 369, 384, 385, 387, 388, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 68 Bộ luật Dân sự, chấp nhận đơn yêu cầu của ông Chu Văn Qu. Tuyên bố một người mất tích đối với bà Nguyễn Thị T – sinh năm 1968, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 15, xã E B, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Căn cứ Điều 35 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, ông Chu Văn Qu phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) ông Chu Văn Qu đã nộp tại biên lai số 0002306 ngày 08/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Buôn Đôn. Ông Chu Văn Qu đã nộp đủ lệ phí.

Người yêu cầu, ông Chu Văn Qu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ