vanban.org

Quyết định 03/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 22/04/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Đức Q.

Tuyên bố: Chị Lý Thị Huỳnh N, sinh năm 1993.Nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 06, ngõ 548, đường Nguyễn Công Trứ, phố T, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Đức Q phải nộp là 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Phạm Đức Q tuyên bố mất tích đối với Lý Thị Huỳnh N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Đức Q.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số 03/2021/QĐST- DSTP. Ninh Bình, ngày 22 tháng 4 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 05/2020/TLST- DS ngày 19/11/2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2021/QĐST- DS, ngày 08 tháng 4 năm 2021 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Đức Q, sinh năm1988.

Địa chỉ: Số nhà 06, ngõ 548, đường N, phố T, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lý Thị Huỳnh N, sinh năm 1993.

Nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 06, ngõ 548, đường N, phố T, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mát tích ngày 14/11/2020, bản tự khai và tại phiên họp người yêu cầu giải quyết việc dân sự là anh Phạm Đức Q trình bày:

Anh và chị Lý Thị Huỳnh N kết hôn ngày 25/3/2015 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn anh và chị N chúng sống với nhau tại số nhà 06, ngõ 548, đường N, phố T, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Vợ chồng có một con chung là cháu Phạm Lý NY, sinh ngày 27/5/2013. Vợ chồng hạnh phúc được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Đến tháng 3/2017 chị N bỏ nhà đi, đi đâu không liên lạc được và không có tin tức gì từ đó cho đến nay. Anh đã liên hệ tìm kiếm và cũng đã liên lạc hỏi bố mẹ chị N là ông Lý Hoàng T, vợ là bà Trương Thị T và đã được bố mẹ chị N xác định từ khi chị N kết hôn, chị N cũng không về gia đình và gia đình cũng không liên lạc được với chị N. Đại diện phố T và Công an phường N cũng đã xác nhận chị N không có mặt tại nơi cư trú từ tháng 3 năm 2017. Anh đã đề nghị Tòa án làm thủ tục thông báo tìm kiếm chị Lý Thị Huỳnh N trên các phương tiện thông tin đại chúng Nng đến nay chị N vẫn không có tin tức gì. Đến nay, chị N đã biệt tích đã lâu, để ổn định cuộc sống, anh đề nghị Tòa án tuyên bố mất tích đối với chị Lý Thị Huỳnh N. Tài liệu chứng cứ kèm theo đơn yêu cầu anh Q xuất trình gồm sổ hộ khẩu, bản sao giấy chứng nhận kết hôn, bản sao giấy chứng minh nhân dân, giấy xác nhận của ông Lý Hoàng Thanh và bà Trương Thị Thu (bố mẹ chị N), xác nhận của Trưởng phố T và Công an phường N về sự vắng mặt tại nơi cư trú của chị N.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án đúng trình tự quy định của pháp luật, người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự.

Về thời gian mở phiên họp không đảm bảo theo quy định tại khoản 4 Điều 388 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị áp dụng Điều 68 của Bộ luật Dân sự; Điều 149, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Đức Q, tuyên bố chị Lý Thị Huỳnh N mất tích.

- Anh Phạm Đức Q phải nộp lệ phí là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình nhận định:

Về tố tụng: Anh Phạm Đức Q yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình tuyên bố chị Lý Thị Huỳnh N mất tích được xác định là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Yêu cầu của Anh Phạm Đức Q thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình.

*Đối với ý kiến nhận xét của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình cho rằng Tòa án vi phạm về thời gian mở phiên họp theo quy định tại khoản 4 Điều 388 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án có ý kiến N sau: Anh Phạm Đức Q có đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích đối với chị Lý Thị Huỳnh N đã được Tòa án thụ lý số 05/2020/TLST-VDS ngày 19/11/2020.

Căn cứ Điều 366 Bộ luật tố tụng dân sự:

Khoản 1 quy định: Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 01 tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác

Điều 388 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về Chuẩn bị xét đơn yêu cầu đối với yêu cầu tuyên bố mất tích, theo đó thời hạn để chuẩn bị xét đơn yêu cầu được quy định N sau

“1. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.

2. Nội dung thông báo và việc công bố thông báo được thực hiện theo quy định tại Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật này. Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên.

3. Trong thời hạn thông báo, nếu người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

4. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn thông báo quy định tại khoản 2 Điều này thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu”.

Khoản 2 Điều 366 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án tiến hành các công việc sau đây:

a)…..

b)….

c)….

d)Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.

Khoản 4 Điều 366 Bộ luật tố tụng dân sự quy định : “Tòa án phải mở phiên họp để giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp”.

Căn cứ vào các quy định trên: Tòa án đã tiến hành liên hệ làm các thủ tục Thông báo tìm kiếm người mất tích trên các phương tiện thông tin đại chúng gồm Báo Công Lý, Đài tiếng nói Việt Nam, Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, niêm yết vản bản thông báo tại nơi cư trú cuối cùng và Ủy ban nhân dân phường N theo quy định pháp luật. Ngày đăng phát đầu tiên Thông báo tìm kiếm người mất tích là vào hồi 09 giờ 55 phút ngày 26/11/2020 trên Cổng thông tin điện tử Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình. Kết thúc thời hạn thông báo sau 04 tháng tính từ thời điểm đăng phát thông báo lần đầu tiên là ngày 27/3/2021 ( vào ngày thứ bẩy - ngày nghỉ cuối tuần). Do vậy căn cứ các Điều 144, 145, 146, 147 và Điều 148 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó”, tương ứng là ngày 29/3/2021. Do vậyviệc tính thời hạn tiếp theo của thời hạn 10 ngày được tính từ ngày 30/3/2021. Trong thời gian 10 ngày, Tòa án đã xác minh tại Ủy ban nhân dân phường N về tin tức của chị Lý Thị Huỳnh N. Ngày 08/4/2021, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình ra Quyết định mở phiên họp và ấn định ngày 22/4/2021 giải quyết việc dân sự là đảm bảo thời gian theo quy định của pháp luật. Về thời gian Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ đảm bảo theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Anh Phạm Đức Q và chị Lý Thị Huỳnh N là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N ngày 25/3/2015, Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại số nhà 06, ngõ 548, đường Nguyễn Công Trứ, phố T, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Anh chị có một con chung là cháu Phạm Lý Ngọc Ý sinh năm 2013, hiện nay cháu đang ở với anh Q. Từ tháng 3/2017, chị N bỏ nhà đi từ đó cho đến nay, không có tin tức gì, mặc dù anh Q đã liên hệ tìm kiếm. Bố mẹ chị N cũng đã có văn bản xác nhận từ khi kết hôn đến nay chị N không về nhà ông bà và ông bà cũng không liên lạc được với chị. Anh Phạm Đức Q có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với chị Lý Thị Huỳnh N. Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đã có Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Lý Thị Huỳnh N trên các phương tiện thông tin đại chúng (đài tiếng nói Việt Nam, báo Công lý), cổng thông tin điện tử của Tòa án, Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình và làm các thủ tục để thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích với nội dung “nếu ai biết được tin tức về chị Lý Thị Huỳnh N thì thông báo cho Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, Ủy ban nhân dân dân phường N và anh Phạm Đức Q”. Nng hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên ngày 26/11/2020 trên Cổng thông tin điện tử Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình cho đến nay cũng không thấy có tin tức gì của chị Lý Thị Huỳnh N. Tòa án cũng đã thông báo về cho gia đình chị N Nng đến nay không nhận được phản hồi của gia đình về tin tức của chị N. Tòa án đã có Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường N và được cung cấp chị N vắng mặt tại địa phương từ tháng 3/2017 đến nay, chị N đi đâu làm gì, địa chỉ ở đâu, địa phương không nắm được. Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015, cần xác định chị Lý Thị Huỳnh N biệt tích vào ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng (tháng 3 năm 2017) tức là ngày 01 tháng 4 năm 2017.

N vậy, thời gian chị Lý Thị Huỳnh N biệt tích đến nay đã 04 năm, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự Nng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Lý Thị Huỳnh N còn sống hay đã chết nên cần chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Đức Q về việc tuyên bố chị Lý Thị Huỳnh N mất tích.

Anh Phạm Đức Q đã chi phí cho việc đăng phát thông báo liên hệ tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.

được

Anh Q phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000đồng

đối trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đồng đã nộp tại cơ quan Thi hành án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 68,144, 145, 146,147 và Điều 148 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 149; Điều 366, Điều 367; Điều 372, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Đức Q.

2. Tuyên bố: Chị Lý Thị Huỳnh N, sinh năm 1993.Nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 06, ngõ 548, đường Nguyễn Công Trứ, phố T, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình mất tích.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Đức Q phải nộp là 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2018/ 0001727 ngày 17/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; Anh Q đã nộp đủ.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo niêm yết. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.

Cỡ chữ