- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn X - Nguyễn Văn H: Tranh chấp về thừa kế"
- Tòa quyết gì? Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị X1, bà Nguyễn Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ; Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 03/2021/QĐ-PT | Thái Bình, ngày 10 tháng 12 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lương Hải Yến
Các Thẩm phán: Ông Vũ Duy Luân
Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 06/2021/QĐST –DS ngày 29 tháng 9 năm 2021;
Tòa án nhân dân huyện Qu Ph, tỉnh Thái Bình đã căn cứ vào các Điều 217, Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp yêu cầu chia thừa kế” giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1960; Nơi cư trú: Thôn Đ Ch, xã Qu Ng, huyện Qu Ph, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Thôn Đ Ch, xã Qu Ng, huyện Qu Ph, tỉnh Thái Bình.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1949; nơi cư trú: Tổ 6, thị trấn Qu C, huyện Qu Ph, tỉnh Thái Bình
Bà Nguyễn Thị X1, sinh năm 1953;
Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1961;
Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989;
Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991;
Chị Nguyễn Thị V A, sinh năm 1999;
Đều có nơi cư trú: Thôn Đ Ch, xã Qu Ng, huyện Qu Ph, tỉnh Thái Bình
(Hội đồng phúc thẩm triệu tập ông X, ông H, bà X1, bà Đ tham gia phiên họp, tại phiên họp có mặt ông H, vắng mặt các đương sự khác)
Tại đơn kháng cáo đề ngày 02/10/2021 của ông Nguyễn Văn X là nguyên đơn và đơn kháng cáo đề ngày 05/10/2021 của bà Nguyễn Thị X1, Nguyễn Thị Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đồng ý với Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân huyện Qu Ph, tỉnh Thái Bình.
XÉT THẤY
Cụ Nguyễn Văn Th (chết năm 1945, có vợ là cụ Nguyễn Thị Nh chết năm 2008, có con là ông Nguyễn Văn V, hy sinh năm 1968, chưa có vợ, con) và cụ Nguyễn Văn T (chết năm 1980, là bố đẻ của ông X, bà X1, bà Đ) là hai anh em ruột. Sau khi cụ Thứ chết, ông V hy sinh thì cụ Nh ở cùng với ông Nguyễn Văn H (là cháu họ) tại thửa đất số 01, tờ bản đồ số 07 diện tích 662m2 và thửa đất số 02, tờ bản đồ số 07, diện tích 133m2 địa chỉ tại thôn Đ Ch, xã Qu Ng, huyện Qu Ph, tỉnh Thái Bình cho đến khi cụ Nh chết năm 2008. Nguồn gốc thửa đất, theo một số người làm chứng thì thửa đất có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Văn Nh1 (bố đẻ cụ Th), cũng có người làm chứng cho rằng thửa đất là của cụ Nguyễn Thị Nh có sau khi cụ Th chết; Ủy ban nhân dân xã Qu Ng, huyện Qu Ph cung cấp: theo bản đồ 299 đo đạc năm 1985 thửa đất ghi mang tên “Th”, nguồn gốc trước đó của thửa đất là của ai, từ đâu mà cụ Th, cụ Nh có được thì UBND xã không xác định được. Từ khi cụ Nh chết thì ông H và gia đình tiếp tục quản lý sử dụng đến nay.
Ông Nguyễn Văn X khởi kiện yêu cầu chia theo pháp luật di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn Th và ông Nguyễn Văn V là ½ diện tích đất của hai thửa đất nêu trên, vì cụ Th và ông V chết không để lại di chúc và không có người ở hàng thừa kế thứ nhất, hàng thừa kế thứ hai nên ông X, bà X1, bà Đ là người thừa kế ở hàng thứ 3.
Xét thấy, cụ Th (chết năm 1945) có vợ là cụ Nh và con là ông V, khi cụ Th chết thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ Th là cụ Nh và ông V, năm 1968 ông V chết thì hàng thừa kế thứ nhất của ông V chỉ có cụ Nh. Như vậy, toàn bộ di sản thừa kế của cụ Th và ông V (nếu có) thì người được hưởng duy nhất là cụ Nh. Ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị X1, bà Nguyễn Thị Đ không thuộc hàng thừa kế của cụ Nguyễn Thị Nh (là bác dâu) nên ông X không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ Nguyễn Thị Nh. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 217 Bộ luật tố tụng Dân sự để đình chỉ việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.
Từ những phân tích trên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông X, bà X1, bà Đ, cần giữ nguyên quyết định của cấp sơ thẩm.
Về án phí: Ông X, bà X1, bà Đ là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị X1, bà Nguyễn Thị Đ; giữ nguyên Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự số 06/2021/QĐST-DS ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Qu Ph, tỉnh Thái Bình.
2. Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn X, bà Nguyễn Thị X1, bà Nguyễn Thị Đ.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Tòa án, Thi hành án huyện Qu Ph, tỉnh Thái Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Lương Hải Yến |