- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "ds"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị T: Tuyên bố ông Trịnh Xuân D mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN UH– TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2020/QĐST-VDS Ngày: 07/7/2020 V/v: tuyên bố một người mất tích |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
(V/v: yêu cầu tuyên bố một người mất tích)
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN UH– TP HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Thiện - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Tưởng Thị Lan - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện UH.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện UHtham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện UHmở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 13/2020/TLST- VDS, ngày 26 tháng 02 năm 2020 về yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2020/QĐPH – ST ngày 29 tháng 6 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Trần Thị T – sinh năm 1966
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn DX, xã HP, huyện UH, thành phố Hà Nội.
2. Người bị yêu cầu:
Ông Trịnh Xuân D – sinh năm 1963
Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: thôn DX, xã HP, huyện UH, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu, đơn xin xác nhận, biên bản lấy lời khai bà Trần Thị T trình bày:
Bà và ông Trịnh Xuân D kết hôn năm 1986 và có với nhau 02 người con: Trịnh Công Thượng, sinh năm 1987 và Trịnh Công Hoàng, sinh năm 1989. Năm 1992 do hoàn cảnh kinh tế gia đình bà gặp nhiều khó khăn, xảy ra nhiều biến cố trong cuộc sống nên ông Trịnh Xuân D bàn bạc với bà về việc đi miền Nam làm ăn kiếm tiền, bà không đồng ý nhưng ông D vẫn quyết định đi. Tuy nhiên, kể từ ngày ông D bỏ đi khỏi nhà cho đến nay bà cùng gia đình không biết và không nhận được bất kỳ thông tin gì của ông D đang ở đâu, làm gì? Còn sống hay đã chết. Bà T và gia đình đã tìm kiếm khắp nơi, áp dụng mọi biện pháp đăng tin trên báo đài để tìm kiếm ông D nhưng không có thông tin gì của ông D mặc dù đã hết thời gian 04 tháng theo quy định của pháp luật. Hiện nay, cả hai con chung của bà với ông D đều đã khôn lớn, trưởng thành , khỏe mạnh và có công việc riêng. Về tài sản, công nợ chung bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Thời gian ông D bỏ nhà đi cũng đã được gần 28 năm, vậy để ổn định cuộc sống bà T có đơn đề nghị Tòa án tuyên bố ông Trịnh Xuân D mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp trình bày quan điểm: về phần tố tụng: qua kiểm tra hồ sơ và tại phiên họp ngày hôm nay: mọi thủ tục tố tụng như xác minh về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ việc, thời hạn mở phiên họp, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng, thành phần tham gia phiên họp đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ việc: đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị T tuyên bố ông Trịnh Xuân D mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện UHnhận định:
Bà Trần Thị T kết hôn với ông Trịnh Xuân D có đăng ký tại UBND xã HP, UH, Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận ở thôn DX, xã HP và sinh được 02 con chung là Trịnh Công Thượng, sinh năm 1987 và Trịnh Công Hoàng, sinh năm 1989. Năm 1992. Quá trình chung sống, do hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, xảy ra nhiều biến cố trong cuộc sống nên ông Trịnh Xuân D bàn bạc với bà T về việc đi miền Nam làm ăn kiếm tiền, bà T không đồng ý nhưng ông D vẫn quyết định đi. Đến năm 1992 ông D bỏ nhà đi, không báo cho gia đình và cũng như chính quyền địa phương biết ông đi đâu? Làm gì?. Kể từ ngày ông D bỏ nhà đi đến nay đã gần 28 năm, không có tin tức gì, không ai biết ông ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết. Bà Trần Thị T và gia đình đã đi tìm kiếm khắp nơi, đã đăng tin tìm kiếm ông D trên đài Tiếng nói Việt Nam và Báo công lý. Đến nay đã hết thời gian 04 tháng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức gì của ông D là đúng thực tế.
Tại biên bản xác minh ngày 26/6/2020 của chính quyền địa phương xã HP cung cấp: ông Trịnh Xuân D kết hôn với bà Trần Thị T từ năm 1986. Đến năm 1992 ông D bỏ nhà đi không báo chính quyền địa phương. Từ đó cho đến nay, ông D không trở về địa phương, không ai biết ông ở đâu, làm gì là đúng thực tế. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các đương sự. Ông D và bà T có hai con chung Trịnh Công Thượng, sinh năm 1987 và Trịnh Công Hoàng, sinh năm 1989 hiện nay đều đã khôn lớn, trưởng thành và khỏe mạnh.
Về con chung: bà T và ông D có 02 con chung Trịnh Công Thượng, sinh năm 1987 và Trịnh Công Hoàng, sinh năm 1989, bà T xác nhận hiện nay cả hai con chung đều đã khôn lớn, trưởng thành, khỏe mạnh và có công việc riêng, bà T không có yêu cầu gì nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không đặt ra giải quyết trong vụ án này. Trường hợp sau này ông T trở vể có yêu cầu thì sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ việc khác.
Nay bà Trần Thị T có nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện UHtuyên bố ông Trịnh Xuân D mất tích. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc và các quy định của pháp luật cần chấp nhận yêu cầu của bà T.
Về lệ phí: bà Trần Thị T phải chịu toàn bộ lệ phí theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 68, 69 Bộ luật dân sự 2015; khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và các Điều 149, 371, 372, 385, 387, 388 và 389 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị T: Tuyên bố ông Trịnh Xuân D mất tích.
2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Buộc bà Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự được trừ vào 300.000 đồng số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai số 0009546 ngày 26/02/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện UH.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định đối với bà T, kể từ ngày quyết định được niêm yết tại trụ sở UBND xã HP đối với ông Trịnh Xuân D.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội - VKSND huyện UH; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện UH; - Người yêu cầu; - Niêm yết tại UBND xã HP; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Văn Thiện |