- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích- Người yêu cầu Trần Thị Thu H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Trương Thị Thu H1.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2020/QĐST-VDS | Bố Trạch, ngày 08 tháng 12 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Trung Thành
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhạn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Hoàng Quỳnh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2020/TLST-VDS ngày 03 tháng 6 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2020/QĐST- VDS ngày 30 tháng 11 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Trương Thị Thu H1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn N, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Tiến H2, sinh năm 1984; nơi cư trú trước khi biệt tích: Tổ dân phố P, thị trấn N, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Tại đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đề ngày 02/6/2020, bản tự khai và tại phiên họp người yêu cầu chị Trương Thị Thu H trình bày: Chị và anh Nguyễn Tiến H, sinh ngày 31/7/1984 kết hôn vào ngày 09/11/2011 tại UBND thị trấn N, huyện B, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu có nhiều mâu thuẩn, dẫn đến thường xuyên cải vã, xúc phạm lẫn nhau. Do đó, anh H đã bỏ đi khỏi địa phương từ ngày 16/01/2017 cho đến nay, nhưng không rõ lý do và không thông báo gì cho vợ con và người thân. Trong những năm qua, chị H1 và gia đình đã thực hiện nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng không biết được tin tức gì của anh H2. Hiện nay, anh H2 ở đâu, làm gì chị H1, gia đình anh H2 và chính quyền địa phương nơi anh H2 cư trú trước khi biệt tích đều không rỏ. Do thời gian anh H2 biệt tích đã lâu, nhưng không có tin tức gì đã làm ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống hôn nhân, nên chị H1 yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Tiến H2 mất tích theo quy định của pháp luật để hoàn tất thủ tục xin ly hôn.
Tại đơn trình bày của bà Phan Thị L, sinh năm 1944 mẹ đẻ của anh H2 (BL: 04); đơn xin xác nhận của chị H1 đề ngày 11/3/2020 (BL; 05) có sự xác nhận của Công an thị trấn N; Biên bản xác minh ngày 12/6/2020 tại nhà bà L đều thể hiện sự việc anh H2 bỏ đi khỏi địa phương từ ngày 16/01/2017 cho đến nay, nhưng không có tin tức gì.
Quá trình giải quyết yêu cầu, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch đã ban hành Quyết định số: 03/2020/QĐ-TA về việc “Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích” đối với anh Nguyễn Tiến H2 và tiến hành các thủ tục thông báo tìm kiếm trên Báo Công Lý trong ba số liên tiếp: 60, 61, 62 ra các ngày 28, 31/7/2020 và ngày 04/8/2020 (BL:32-33-34); Nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam và phát thông báo tìm kiếm anh H2 trên kênh VOV2 vào lúc 17 giờ 30 phút trong các ngày 30, 31/7/2020 và ngày 01/8/2020 (BL: 35).
- Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch phát biểu quan điểm: Căn cứ đơn yêu cầu và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự đã có căn cứ xác định thời gian biệt tích liên tục của anh H2 đến nay đã hơn 02 năm, nhưng không xác định được tung tích về nhân thân và địa chỉ nơi cư trú của anh H2. Do đó, chị H1 yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh H2 là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39; các Điều 361, 369, 370, 371, 372, 387 và Điều 389 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 68 của Bộ Luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Thu H1 tuyên bố anh Nguyễn Tiến H2 mất tích và buộc đương sự phải chịu nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Trương Thị Thu H1 và anh Nguyễn Tiến H2 đều có nơi cư trú tại thị trấn N, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu tuyên bố một người mất tích của đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của chị H1 và người thân của anh H2 thì anh Nguyễn Tiến H1 đã bỏ nhà đi từ ngày 16/01/2017 cho đến nay vì lý do mâu thuẩn trong gia đình. Mặc dù gia đình và người thân đã tìm nhiều cách tìm kiếm về thông tin của anh H2, cũng như áp dụng biện pháp thông báo, tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng đều không có thông tin về anh H2 đang ở đâu, làm gì.
Theo xác nhận của Công an thị trấn N, anh Nguyễn Tiến H2, sinh ngày 31/7/1984 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố P, thị trấn N, huyện B, tỉnh Quảng Bình đã đi khỏi địa phương từ 16/01/2017 cho đến nay, hiện tại anh H2 không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ.
Theo yêu cầu của đương sự, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch đã ban hành Quyết định số: 03/2020/QĐ-TA về việc “Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích” đối với anh Nguyễn Tiến H2 và tiến hành các thủ tục thông báo tìm kiếm trên Báo Công Lý trong ba số liên tiếp: 60, 61, 62 ra các ngày 28, 31/7/2020 và ngày 04/8/2020; Nhắn tin trên Trung tâm quảng cáo VOV - Đài tiếng nói Việt Nam và phát thông báo tìm kiếm anh H2 trên kênh VOV2 vào lúc 17 giờ 30 phút trong các ngày 30, 31/7/2020 và ngày 01/8/2020. Tuy nhiên, tính từ ngày đăng thông báo tìm kiếm anh Nguyễn Tiến H2 cho đến nay đã quá 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức gì.
Do đó, theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015 đã có đủ cơ sở xác định anh Nguyễn Tiến H2 đã biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự những vẫn không có tin tức xác thực của anh H2 còn sống hay đã chết. Vì vậy, yêu cầu của chị H1 đề nghị Tòa án tuyên bố anh H2 mất tích là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự phải chịu nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 và các Điều 361, 370, 371, 372, 387 và Điều 389 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 68 Bộ Luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Trương Thị Thu H1.
Tuyên bố anh Nguyễn Tiến H2, sinh ngày 31/7/1984; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ dân phố P, thị trấn N, huyện B, tỉnh Quảng Bình mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Trương Thị Thu H1 phải chịu nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số: AA/2017/0003487, ngày 03/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Chị H1 đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND Quảng Bình; - VKSND huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch. - Người yêu cầu, NCQLNVLQ; - UBND TT N , huyện B. - Lưu: HSVDS, Lưu TA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Trần Trung Thành |