- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố mất tích giữa người yêu cầu Lý Thị T1 với người bị yêu cầu Phạm Văn T2"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của bà Lý Thị T1.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2020/QĐST-DS | Phong Điền, ngày 09 tháng 10 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Văn Lo
Thư ký phiên họp: Ông Lê Văn Cum Anh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Ngọc Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2020/TLST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2020/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1/ Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lý Thị T1, sinh năm 1947. Địa chỉ: ấp N, xã N1, huyện P, TP. Cần Thơ – có mặt.
2/ Người bị yêu cầu là anh Phạm Văn T2, sinh năm 1998; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: ấp N, xã N1, huyện P, TP. Cần Thơ.
3/ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1/ Ông Phạm Thành T3, sinh năm 1946. Địa chỉ: ấp N, xã N1, huyện P, TP. Cần Thơ – có mặt.
3.2/ Chị Phạm Kim D, sinh năm 1973 (tên gọi khác: T4). Địa chỉ: ấp T, thị trấn P, huyện P, TP. Cần Thơ. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 11-5-2020.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu của bà Lý Thị T1 ngày 28-02-2020 và trong quá trình giải quyết, người yêu cầu trình bày: Vào khoảng năm 2001, bà có nhận Phạm Văn T2 làm cháu nuôi, lúc đó T2 khoảng 02 tuổi và bà để cho con gái của bà là Phạm Kim D đứng tên mẹ trong khai sinh của T2. Lúc nhận T2 nuôi không có làm thủ tục nhận con nuôi mà chỉ làm giấy khai sinh cho T2. Lúc nhận T2 nuôi cũng không biết cha mẹ của T2 là ai. T2 sống với bà từ lúc nhận nuôi đến ngày 10-02-2018 thì T2 bỏ nhà đi không liên lạc về nhà và từ đó đến nay cũng không biết T2 sống ở đâu. Nay Bà yêu cầu Tòa án tuyên bố Phạm Văn T2 là người mất tích. Về tài sản của T2 thì không có.
Theo lời khai của chị Phạm Kim D trình bày: Chị là người đứng tên trong giấy khai sinh là mẹ nuôi chứ không có nuôi T2 ngày nào, mà mẹ chị (là bà T1) trực tiếp nuôi T2. Từ lúc bỏ đi đến nay, T2 đi đâu chị cũng không biết.
Theo lời khai của ông Phạm Thành T3 trình bày: Phạm Văn T2 được ông và bà T1 xin nuôi từ nhỏ, T2 kêu ông bằng ông ngoại. Thời điểm cháu T2 bỏ nhà đi thì lúc đó ông ở Vũng Tàu tu học. Từ lúc T2 bỏ nhà đi đến nay, T2 cũng không có liên lạc với ông và ông cũng không có tin tức gì về T2.
Tại đơn xin xác nhận của bà Lý Thị T1 ngày 28-02-2020, Công an xã N1, huyện P, thành phố Cần Thơ xác nhận nội dung đơn như sau: Đương sự Phạm Văn T2, sinh năm 1998; Đăng ký thường trú tại ấp N, xã N1, huyện P, thành phố Cần Thơ, bỏ địa phương đi đâu không rõ từ ngày 10-02-2018 đến nay.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đương sự thực hiện đầy đủ các quyền theo quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị Thẩm phán giải quyết việc dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lý Thị T1 và tuyên bố anh Phạm Văn T2 là người mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ nhận định:
Về quan hệ pháp luật yêu cầu và thẩm quyền giải quyết: Bà Lý Thị T1 có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Phạm Văn T2 là một người mất tích nên xác định quan hệ pháp luật yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích”. Anh T2 có nơi cư trú cuối cùng tại ấp N, xã N1, huyện P, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 3 Điều 27, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thông báo tìm kiếm người mất tích: Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm và được phát trên Báo Công lý lần 01 số 045 ngày 05-6-2020, lần 02 số 046 ngày 09-6-2020 và lần 03 số 047 ngày 12-6-2020; phát sóng trên đài của Trung tâm truyền hình Việt Nam tại TP. Cần Thơ các ngày 28, 29, 30 tháng 5 năm 2020; Đồng thời, Tòa án có gửi công văn đề nghị đăng tin trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án và Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nên đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của bà Lý Thị T1; xét thấy, bà T1 có nhận anh Phạm Văn T2 làm cháu nuôi và sống chung hộ khẩu với bà từ năm 2001 đến năm 2018 thì T2 bỏ nhà đi nên bà T1 có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T2 là người mất tích. Anh T2 bỏ địa phương đi từ ngày 10-02-2018 đến nay không có tin tức gì và được Công an xã Nhơn Ái xác nhận là sự thật và tính từ đó đến nay đã trên 02 năm. Mặc dù, bà T1 đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật và đến nay đã hơn 04 tháng vẫn không có tin tức gì về anh T2 là còn sống hay đã chết. Do đó, yêu cầu của bà T1 là phù hợp theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự nên chấp nhận. Về tài sản của anh T2 thì bà T1 xác định không có nên không xét giao người quản lý. Vì vậy, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền đề nghị chấp nhận yêu của của bà T1 là đúng quy định của pháp luật.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Lý Thị T1 được miễn lệ phí do thuộc diện người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà T1 đã được miễn tạm ứng lệ phí.
Về chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm: Bà Lý Thị T1 phải chịu số tiền 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm ngàn đồng) theo quy định tại Điều 385 của Bộ luật dân sự.
Về thời hạn kháng cáo: Đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 149 và Điều 372, Điều 385 và Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật dân sự và tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Chấp nhận yêu cầu của bà Lý Thị T1.
Tuyên bố: Anh Phạm Văn T2, sinh năm 1998. Nơi cư trú cuối cùng: ấp N, xã N1, huyện P, thành phố Cần Thơ là một người mất tích.
2/ Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Lý Thị T1 được miễn lệ phí do thuộc diện người cao tuổi.
3/ Về chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm: Bà Lý Thị T1 phải chịu 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm ngàn đồng). Bà T1 đã nộp xong.
4/ Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - VKSND H. Phong Điền; - THADS H. Phong Điền; - Các đương sự; - UBND xã Nhơn Ái (để ghi chú về hộ tịch); - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Văn Lo |