- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định yêu cầu tuyên bố một người mất tích chị Vàng Thị S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu Anh Sùng Mí S yêu cầu tuyên bố Chị Vàng Thị S, sinh năm 1985; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH HÀ GIANG Số: 03/2020/QĐST-DS | Bắc Mê, ngày 13 tháng 10 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Dương Văn Công.
Thư ký phiên họp: Ông Trần Xuân Đạt - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Bà Bàn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyên B, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2020/TLST-VDS ngày 27 tháng 5 năm 2020 về việc Yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2020/QĐST-VDS ngày 06 tháng 10 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Sùng Mí S; Sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vàng Thị S; Sinh năm 1985.
Nơi cư trú trước khi biệt tích: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 18/5/2020, các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp Anh Sùng Mí S trình bày:
Anh Súng và Chị Vàng Thị S trước khi lấy nhau được tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 16/4/2006 tại UBND xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang. Quá trình vợ, chồng chung sống không có mâu thuẫn gia đình. Nguyên nhân do vợ Chị Vàng Thị S đòi đi làm Công ty đến lần thứ 03, anh S nói không cho đi làm Công ty lý do con nhỏ, bận công tác hôm sau sáng ngày 30/5/2017 chủ nhật chị Sinh ở nhà giặt quần áo xong và phơi quần áo, anh làm quanh nhà không rõ lý do gì Chị Vàng Thị S tự bỏ nhà đi đâu không có lý do, sau một tuần anh sang bà ngoại bên vợ hỏi không thấy ở bên đó, anh lên nhà bác bên vợ ông Vàng Sè D ở trung tâm xã X, huyện Đ, tỉnh Hà Giang hỏi không thấy vợ ở đó, anh về báo Công an viên, Công an xã P, báo chính quyền địa phương và đi tìm những gia đình quen biết. Ngoài ra thỉnh thoảng sang bên nhà mẹ đẻ Chị Vàng Thị S hỏi nhưng không có kết quả thông tin liên lạc gì. Từ đó đến nay đã ba năm chôi qua không biết hiện nay Chị Vàng Thị S ở đâu. Thời gian vợ chồng chung sống có 02 con Sùng Thu G, sinh ngày 12/12/2006 và Sùng Khánh H, sinh ngày 24/8/2008. Về tài sản chung của vợ chồng không có.
Tại phiên họp Anh Sùng Mí S yêu cầu tuyên bố Chị Vàng Thị S mất tích; về con chung anh tự nguyện nuôi không yêu cầu giải quyết; về áp dụng biện pháp quản lý tài sản không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên họp kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc Tòa án thụ lý, giải quyết đúng theo trình tự, thủ tục và thẩm quyền; tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, người tham gia tố tụng tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35; Điều 39, 149, 361, 367, 369, 370, 387, 388 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của Anh Sùng Mí S, yêu cầu tuyên bố Chị Vàng Thị S, sinh năm 1985 mất tích.
- Về lệ phí: Anh Sùng Mí S chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện B nhận định:
. Về tố tụng: Anh Sùng Mí S có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện B tuyên bố Chị Vàng Thị S mất tích, đây là việc dân sự không có tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự, Chị Vàng Thị S có nơi cư trú trước khi biệt tích tại huyện B. Do đó, theo quy định tại các Điều 35, 39 và Điều 361 Bộ luật tố tụng dân sự thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Giang.
Về nội dung: Anh Sùng Mí S chung sống với Chị Vàng Thị S từ năm 2006 có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang. Thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung gồm: Sùng Thu G, sinh ngày 12/12/2006 và Sùng Khánh H, sinh ngày 24/8/2008. Về tài sản chung không có. Nguyên nhân Chị Vàng Thị S xin anh S đi làm Công ty dưới xuôi 03 lần nhưng anh S không cho vợ đi làm, lý do con nhỏ, anh thì bận công tác ngoài ra không có mâu thuẫn gì, nên ngày 30/5/2017 Chị Vàng Thị S tự bỏ nhà đi được 03 năm, đi đâu, làm việc gì không có thông tin liên lạc với gia đình và người thân, mặc dù gia đình đã tổ chức tìm kiếm nhưng không có kết quả và hiện tại không biết Chị Vàng Thị S ở đâu còn sống, hay đã chết. Như vậy, có đủ cơ sở chấp nhận đơn yêu cầu của Anh Sùng Mí S yêu cầu tuyên bố Chị Vàng Thị S mất tích theo quy định Điều 68 Bộ luật dân sự.
Ngày 27/5/2020 Tòa án nhân dân huyện B thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án đã ban hành quyết định số 02/2020/QĐ-TA ngày 29/5/2020 về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích Chị Vàng Thị S. Thông báo này đã đăng trên báo Công lý 03 số liên tiếp (số 46 ngày 05/6/2020); (số 47 ngày 10/6/2020); (số 48 ngày 12/6/2020) và phát trên đài tiếng nói Việt Nam VOV2, 17h30 trong 03 ngày liên tiếp ngày 09, 10 và ngày 11/6/2020. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, nhưng việc tìm kiếm Chị Vàng Thị S vẫn không có kết quả. Như vậy, có đủ cơ sở tuyên bố Chị Vàng Thị S mất tích theo quy định Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Biên bản xác minh ngày 30/9/2020 tại gia đình bố đẻ Chị Vàng Thị S; Biên bản xác minh ngày 30/9/2020 tại Công an xã P, huyện B nơi cư trú cuối cùng Chị Vàng Thị S trước khi biệt tích xác nhận, Chị Vàng Thị S vắng mặt tại địa phương từ tháng 5/2017 đến nay, không có tin tức ở đâu, không biết còn sống hay đã chết.
Anh Sùng Mí S không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố một người mất tích, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về lệ phí và chi phí tố tụng khác: Anh Sùng Mí S chịu tiền lệ phí và chi phí thông báo trên báo công lý và đài tiếng nói Việt Nam VOV2 theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35; Điều 39, 149, 361, 367, 369, 370, 372, 387, 388 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu Anh Sùng Mí S yêu cầu tuyên bố Chị Vàng Thị S, sinh năm 1985; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Sùng Mí S chịu 300.000đ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ, Anh Sùng Mí S đã nộp theo biên lai thu số 07134 ngày 27/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Hà Giang.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Sùng Mí S, Chị Vàng Thị S có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Trường hợp vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn được tính ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Giang; - VKSND tỉnh Hà Giang; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Người yêu cầu; - Người có QLNVLQ; - UBND xã P. - Lưu: Hồ sơ việc dân sư. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Dương Văn Công |