vanban.org

Quyết định 03/2020/QĐST-DS — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Đinh Thị Thanh B về việc phân chia tài sản để thi hành án đối với số tiền 320.

Lệ phí: Bà Đinh Thị Thanh B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2020/0000083 ngày 21/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Kháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Phân chia tài sản để THA"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Đinh Thị Thanh B về việc phân chia tài sản để thi hành án đối với số tiền 320.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2020/QĐST-DSĐiện Biên Phủ, ngày 26 tháng 6 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu xác định quyền sở hữu tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Nhung;

Thư ký phiên họp: Bà Quàng Thị Thu;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên họp: Ông Vũ Đình Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2020, tại phòng họp Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ L số 06/2020/TLST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2020; về việc: Yêu cầu phân chia tài sản chung để thi hành án, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/QĐST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đinh Thị Thanh B; địa chỉ: Tổ dân phố 01, phường T, thành phố Đ, tỉnh B - Có mặt;

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1 Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh B, Người đại diện theo pháp luật: bà Dương Thị K - Chi cục trưởng; đồng thời là chấp hành viên ban hành thông báo về việc thanh toán tiền để thi hành án - Có mặt;

2.2 Ông Phan Thanh T; địa chỉ: Tổ dân phố 01, phường T, thành phố Đ, tỉnh B

- Có mặt;

2.3 Ông Lưu Huy T; địa chỉ: Đội 4A, xã P, huyện Đ, tỉnh B - Có mặt;

2.4 Ông Hà Lê Kiên T; địa chỉ: Tổ dân phố 06, phường T, thành phố Đ, tỉnh B - Có mặt;

2.5 Bà Lưu Thị L; địa chỉ: Tổ dân phố 09, phường N, thành phố Đ, tỉnh B - Có mặt;

2.6 Bà Lưu Thị Th; địa chỉ: Tổ dân phố 01, phường M, thành phố Đ, tỉnh B - Có mặt;

Nội dung yêu cầu: Yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng để thi hành án.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1. Tại đơn yêu cầu ngày 29/5/2020 và quá trình giải quyết việc dân sự bà Đinh Thị Thanh B trình bầy:

Bà Đinh Thị Thanh B và ông Phan Thanh T kết hôn vào năm 2014. Quá trình chung sống ông T và bà B có tài sản chung là nhà đất tại tổ dân phố 1, phường B, thành phố Đ. Nhà đất này ông T và bà B đã thế chấp để vay tiền tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Đ để vay tiền; Ngân hàng đã bán để trừ nợ của ông T, bà B. Còn lại 320.195.206 đồng Ngân hàng chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ quản L vì ông T đang phải thi hành việc trả nợ cho ông T, ông Th, bà L và bà Th. Những khoản nợ này là nợ riêng của ông T, ông T sử dụng vào việc gì bà B không được biết. Riêng khoản tiền 1.400.000.000 đồng ông T phải trả ông T theo hợp đồng đặt cọc ngày 22/5/2019, đây là khoản tiền nợ theo 03 giấy vay tiền giữa ông T và ông T; bà B viết hợp đồng theo mẫu ông T đem đến, nhưng vì không thỏa thuận được nên bà B chưa ký vào các tờ rời của hợp đồng và đã hủy đi, vì vậy hợp đồng đặt cọc ông T khởi kiện chỉ có chữa ký bà B ở một tờ A4 không có nội dung gì về tiền đặt cọc; cũng vì vậy ông T và ông T mới thỏa thuận chỉ có ông T trả tiền cho ông T.

Bà B yêu cầu Tòa án phân chia cho bà B 1/2 số tiền Ngân hàng đã chuyển sang thi hành án đã trình bầy ở trên.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bầy:

2.1 Bà Dương Thị K: Chi cục thi hành án dân sự đã có văn bản số 528/CCTHADS-NV ngày 02/6/2020 gửi cho Tòa án. Theo các quyết định thi hành án số 581/QĐ-CCTHADS và 582/QĐ-CCTHADS ngày 19/7/2020; số 587/QĐ-CCTHADS và 88/QĐ-CCTHADS ngày 30/10/2019 và số 387/QĐ-CCTHADS ngày 18/3/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ thì ông Phan Thanh T phải thi hành các khoản tiền sau: Trả cho bà Lưu Thị L 408.000.000 đồng và nộp 5.080.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch; trả cho ông Lưu Huy Th 353.500.000 đồng và nộp 4.418.750 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch; trả cho ông Hà Lê Kiên T 1.400.000.000 đồng và nộp 13.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch; trả cho bà Lưu Thị Th 270.000.000 đồng và nộp 3.375.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Chi cục thi hành án dân sự đã tiến hành xác minh tài sản của ông T và xác định ông T, bà B có tài sản chung là nhà đất tại tổ dân phố 1, phường Thanh Bình, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Tài sản này ông T, bà B đã thế chấp để vay tiền Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Điện Biên. Hiện Ngân hàng đã bán tài sản thế chấp này để trừ nợ; số tiền còn lại 320.195.206 đồng, Ngân hàng chuyển cho Chi cục thi hành án quản L để thi hành án. Chi cục thi hành án đã ban hành thông báo số 521/TB-CCTHADS ngày 28/5/2020 về việc thanh toán tiền thi hành án, đồng thời thông báo cho ông T và bà B được biết, để thực hiện quyền của mình theo quy định của pháp luật. Bà B yêu cầu Tòa án phân chia cho bà B được quyền sở hữu 1/2 số tiền Ngân hàng chuyển sang thi hành án quản L; đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu của bà B theo quy định của pháp luật.

2.2 Ông Phan Thanh T: Đồng ý với yêu cầu của bà B, bà B được quyền sở hữu 1/2 số tiền Ngân hàng chuyển cho Chi cục thi hành án quản L.

2.3 Ông Lưu Huy Th và bà Lưu Thị L cùng có ý kiến: Khi ông Th và bà L cho ông T vay tiền thì ông T vẫn đang chung sống với bà B. Mặc dù giấy nợ chỉ ông T ký và quyết định của Tòa án chỉ mình ông T phải trả nợ, nhưng ông T bà B cùng sử dụng tiền. Do tin tưởng nên ông Th và bà L không yêu cầu bà B ký vào giấy nợ, nên không có chứng cứ xuất trình cho Tòa án. Bà nội ông T, bà B cũng đã có lần hứa bán nhà sẽ trả nợ cho ông Th và bà L. Vì vậy ông Th và bà L không đồng ý với yêu cầu của bà B về việc được quyền sở hữu 1/2 số tiền Ngân hàng chuyển sang chi cục thi hành án quản L.

2.4 Ông Hà Lê Kiên T: Ông T không đồng ý với yêu cầu của bà B về việc phân chia cho bà B 1/2 số tiền Ngân hàng chuyển cho Chi cục thi hành án. Khi ông T vay tiền ông T, bà B cũng biết và cũng đồng ý trả nợ cho ông T. Số tiền 1.400.000.000 đồng tại hợp đồng đặt cọc được cộng từ ba giấy nợ giữa ông T và ông T trước đó, nên không giao tiền khi làm hợp đồng đặt cọc; bà B là người viết hợp đồng nên không thể không biết; các bên ký vào các tờ rời của hợp đồng là do chủ quan, tin tưởng nhau; vì vậy số tiền 320.195.206 đồng Chi cục thi hành án đang quản L phải dùng để trả các khoản nợ của ông T.

2.5 Bà Lưu Thị Th: Khoản tiền bà Th cho ông T vay bà B không biết. Bà Th đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu của bà B theo quy định của pháp luật.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên: Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thu thập hợp pháp; Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự. Số tiền 320.195.206 đồng Ngân hàng chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ quản L là tài sản chung của ông T, bà B. Yêu cầu của bà B về việc được phân chia 1/2 số tiền trên là có căn cứ theo các điều luật có liên quan của Bộ luật Dân sự 2015 và Luật hôn nhân và Gia đình 2014; đề nghị Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhận định:

Về thẩm quyền: Yêu cầu của bà Đinh Thị Thanh B về việc phân chia tài sản chung để thi hành án theo thông báo của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo khoản 9 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm n khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự và Điều 74 của luật thi hành án dân sự.

Về việc thụ L yêu cầu: Ngày 29/5/2020 bà Đinh Thị Thanh B nộp cho Tòa án đơn yêu cầu phân chia tài sản chung để thi hành án; ngày 01/6/2020 bà B nộp cho Tòa án biên lai thu tạm ứng lệ phí; ngày 02/6/2020 Tòa án đã thụ L yêu cầu của bà B theo Điều 363 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Ơ]

Về yêu cầu phân chia tài sản chung để thi hành án của bà Đinh Thị Thanh B.

Số tiền 320.195.206 đồng là tài sản chung của ông T và bà B còn lại sau khi Ngân hàng bán nhà đất của ông T và bà B để trừ nợ. Số tiền này Chi cục thi hành án dân sự đang quản L để thi hành khoản nợ của ông T phải trả cho ông T, bà Th, bà L và ông Th theo quyết định của Tòa án. Các khoản nợ này của ông T không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình ông T và bà B, nên bà B không có nghĩa vụ trả theo khoản 2 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình. Yêu cầu của bà B về việc được sở hữu 1/2 số tiền 320.195.206 đồng nói trên là có căn cứ theo Điều 219 BLDS và Điều 33, Điều 59 của Luật HN&GĐ.

Về Lệ phí: Bà B phải chịu lệ phí giải quyết yêu cầu theo Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 9 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm n khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 74 của luật thi hành án dân sự;

- Căn cứ Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 33, 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 149 BLTTDS; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Đinh Thị Thanh B về việc phân chia tài sản để thi hành án đối với số tiền 320.195.206 đồng bán nhà, đất thuộc quyền sử dụng, sở hữu chung của vợ chồng do Agribank chi nhánh huyện Điện Biên chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ quản L để thi hành án. Bà Đinh Thị Thanh B được quyền sở hữu 1/2 số tiền này là 160.097.603 đồng.

2. Lệ phí: Bà Đinh Thị Thanh B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2020/0000083 ngày 21/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

3. Kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; nếu những người này vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ