vanban.org

Quyết định 03/2020/QĐ-TA

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 09/01/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Phú H.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày Bàn Phú H bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ: Xã Tân T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk).… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "quyết đinh áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Phú H.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2020/QĐ-TABuôn Ma Thuột, ngày 09 tháng 01 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lê Đình Thanh

2. Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Bích Dịu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 09 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 10/QĐ-MPH ngày 03 tháng 01 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Bàn Phú H; Tên gọi khác: C; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1996; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nguyên quán: Quảng Ninh; Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố 8, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; chổ ở hiện nay: Tổ dân phố 6B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Tiền án: Không; Tiền sự: Hai; Con ông Bàn Ngọc H và con bà Vũ Thị Kim L. Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Vũ Thị N – Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột: Ông Y Lương Byă - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 20/9/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Quyết định số 320/ QĐ- UBND V/v Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn/ biện pháp quản lý tại gia đình đối với Bàn Phú H, thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 20/9/2019. Trong thời gian đang chấp hành thì vào ngày 05/11/2019, H tiếp tục sử dụng ma túy và bị Công an phường T phát hiện, đưa về làm việc. Quá trình làm việc, Bàn Phú H khai nhận đã sử dụng ma túy từ năm 2015 và nghiện cho đến nay, do đó Công an phường T đã kết hợp với Bệnh viện đa khoa thành phố B xét nghiệm chất ma túy đối với Bàn Phú H. Kết quả xét nghiệm xác định Bàn Phú H dương tính với MOP (Morphin/Heroin). Công an phường T, thành phố B đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Phú H.

Tại phiên họp đại diện phòng lao động thương binh xã hội thành phố B trình bày: Căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Phú H do Công an phường T, thành phố B lập đã thể hiện: Bàn Phú H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2015 đến nay, trong thời gian bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì vào ngày 05/11/2019, Bàn Phú H đã tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Phú H với thời gian từ 14 tháng đến 16 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột: Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Phú H, thời gian 14 tháng đến 16 tháng.

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai người bị đề nghị Bàn Phú H trình bày: Bàn Phú H là người nghiện ma túy từ năm 2015 và nghiện cho đến nay. Ngày 20/9/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Quyết định số 320/ QĐ- UBND V/v Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn/ biện pháp quản lý tại gia đình đối với Bàn Phú H, thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 20/9/2019. Vào ngày 05/11/2019, H tiếp tục sử dụng ma túy và bị Công an phường T phát hiện, đưa về làm việc.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng lao động, thương binh xã hội thành phố B tại phiên họp và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, đã có đủ căn cứ để xác định:

Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Phú H đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

Bản thân Bàn Phú H là người có khả năng nhận thức rõ chất ma túy là chất gây nghiện và nếu đưa vào cơ thể sẽ làm nguy hại cho sức khỏe con người, đồng thời cũng là nguyên nhân lây truyền các căn bệnh thế kỷ, đại dịch HIV, AIDS và làm phát sinh một số tội phạm khác. Tuy nhiên, anh Bàn Phú H vẫn cố ý sử dụng. Do vậy, để tạo điều kiện cho Bàn Phú H chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề nên cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố B, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh Bàn Phú H.

Căn cứ vào các Điều 6, Khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Các Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ; Điều 19, Điều 20 và Điều 22 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bàn Phú H.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày Bàn Phú H bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ: Xã Tân T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk).

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động, thương binh và xã hội thành phố B.

Cỡ chữ