vanban.org

Quyết định 03/2019/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TX. Lagi, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 25/06/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.

1/ Chấp nhận yêu cầu về việc: “Tuyên bố một người mất tích” của ông Nguyễn Thanh T. Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; Nơi cư trú cuối Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyen Thanh T yeu cau tuyen bo Nguyen Thi H mat tich"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LAGI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2019/QĐST-VDS L, ngày 25 tháng 6 năm 2019

Số: 03/2019/QĐST-VDS L, ngày 25 tháng 6 năm 2019

THỊ XÃ L Độc lập - Tự do - Hạnh phúc QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ V/v YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI MẤT TÍCH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Vũ Hà Linh Thư ký phiên họp: Bà Mai Thị Thanh – Thư ký Tòa án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Xuân - Kiểm sát viên. Ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân TX L mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 128/2018/TLST-VDS ngày 06 tháng 12 năm 2018, về việc yêu cầu: “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2019/QĐST-VDS ngày 20/5/2019 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2019/QĐST-VDS ngày 06/6/2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây: - Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; Nơi ĐKNKTT: Thôn 2, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ: Ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thị H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2000, tại Ủy ban nhân dân xã T (cũ), nay là phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn, ông T và bà H sống tại nhà ông T ở thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Chung sống được 02 tháng thì bà H bỏ nhà đi biệt tích. Khoảng 03 năm đầu tiên từ khi bà H bỏ đi, ông có nghe thông tin là bà H đã lấy người khác và thỉnh thoảng có về nhà mẹ đẻ thăm người thân. Nhưng từ khoảng năm 2004 đến nay thì không có tin tức gì. Mặc dù ông T đã áp

dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức. Tính đến nay, bà H đã biệt tích hơn 15 năm. Vì vậy, ông yêu cầu Toà án tuyên bố bà Nguyễn Thị H đã mất tích; Ông và bà H không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã L nhận định: [1] Về thẩm quyền: Xét yêu cầu của ông Nguyễn Thanh T, là yêu cầu về việc dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L, theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về

nội dung vụ việc: Qua lời khai và các chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thị H chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 12 năm 2000, tại Ủy ban nhân dân xã T (cũ), nay là phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống, ông T và bà H không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung. Chung sống với nhau được 02 tháng (đầu năm 2001) thì bà H bỏ đi khỏi địa phương. Khoảng 03 năm đầu, bà H có thỉnh thoảng về nhà mẹ đẻ thăm người thân, nhưng từ khoảng năm 2004 đến nay thì không có tin tức gì. Ông T đã tìm kiếm, hỏi thăm những người quen biết nhưng đến nay vẫn không liên lạc và cũng không có tin tức gì về bà H. Toà án TX L cũng đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm bà Nguyễn Thị H, thông báo đăng tin tìm kiếm trên Đài Tiếng Nói Việt Nam và đăng tin trên các phương tiện thông tin đại chúng tại Báo Lao động các số 300, 301, 302 lần lượt các ngày 24, 25, 26 tháng 12 năm 2018, nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của bà Nguyễn Thị H. Tính đến nay, bà H đã biệt tích trên 02 năm. Vì vậy, ông T làm đơn yêu cầu Toà án tuyên bố bà Nguyễn Thị H bị mất tích là có cơ sở để chấp nhận. Do quá trình chung sống, ông T trình bày ông và bà Ho không có con chung, tài sản chung và nợ chung, ông không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét. [3] Về án phí: Người yêu cầu phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L phát biểu ý kiến đối với vụ việc: Việc tuân theo pháp luật tố tụng và thời hạn giải quyết trong quá trình giải quyết

vụ việc của Toà án đúng theo quy định của pháp luật, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm ra quyết định mở phiên họp. Về quan điểm vụ việc: Chấp nhận yêu cầu tuyên bố mất tích của ông Nguyễn Thanh T. Tuyên bố bà Nguyễn Thị H mất tích từ năm 2001. Về lệ phí: Ông Nguyễn Thanh T phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 366, 367, 369, 370, 371, 372, 388, 389 Bộ Luật tố tụng dân sự; - Điều 68, 69 Bộ luật Dân sự; - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 về án phí, lệ phí Tòa án. 1/ Chấp nhận yêu cầu về việc: “Tuyên bố một người mất tích” của ông Nguyễn Thanh T. Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận đã mất tích. 2/ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng lệ phí nhưng được khấu trừ vào số tiền lệ phí đã nộp tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai số 0021958 ngày 06.12.2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L. Ông Nguyễn Thanh T đã nộp đủ lệ phí. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định. Viện Kiểm Sát có quyền kháng nghị quyết định này theo luật định. Trường hợp quyết định thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung. THẨM PHÁN *

Cỡ chữ