vanban.org

Quyết định 03/2019/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 13/05/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích của chị Hoàng Thị L.

Tuyên bố anh Sơn Văn L, sinh năm 1979; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam mất tích. Lệ phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chị Hoàng Thị L yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với anh Sơn Văn L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích của chị Hoàng Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2019/QĐDS-ST
Ngày 13/5/2019
Kim Bảng, ngày 13 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: “Tuyên bố một người mất tích”

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Nguyệt - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên họp: Bà Đinh Thị An - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 10/2018/TLST-VDS ngày 04 tháng 12 năm 2018, về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2019/QĐST-VDS ngày 02 tháng 5 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Thôn L, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Sơn Văn L, sinh năm 1979.

Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 20 tháng 11 năm 2018 và bản tự khai tại Tòa án, chị Hoàng Thị L là người yêu cầu trình bầy: Chị và anh Sơn Văn Lkết hôn tự nguyện, có đăng ký ngày 28 tháng 01 năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được gần một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm, dẫn đến cãi, chửi nhau. Tháng 8 năm 2005, anh L bỏ về sống cùng với chú họ là ông Nguyễn Văn N, ở thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam, cho đến tháng 6/2011 thì bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam cho đến nay đã hơn 07 năm không về chung sống cùng chị và ông N lần nào nữa, chị cũng không biết tin tức gì về anh L hiện nay đang làm gì, ở đâu, mặc dù chị đã tìm kiếm nhưng không có kết quả. Vì vậy chị yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Sơn Văn L mất tích theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, chị L giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Sơn Văn L mất tích. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự. Căn cứ khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149 và Điêu 389 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 68 của Bộ luật Dân sự. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị L về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Sơn Văn L mất tích. Lệ phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đồng chị L đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam nhận định:

Chị Hoàng Thị L và anh Sơn Văn L kết hôn tự nguyện, có đăng ký ngày 28 tháng 01 năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống cùng với bố mẹ đẻ chị tại thôn L, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được gần một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm, dẫn đến cãi, chửi nhau. Tháng 8 năm 2005, anh L bỏ về sống cùng với chú họ là ông Nguyễn Văn N, ở thôn Vồng, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam, cho đến tháng 6/2011 thì anh Sơn Văn L đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn V, xã K, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cho đến nay đã hơn 07 năm. Chị L không biết tin tức gì về anh L làm gì, ở đâu mặc dù chị đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm.

Trên cơ sở yêu cầu của chị L, ngày 17 tháng 12 năm 2018 Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 10/2018/QĐ-TA đối với anh Sơn Văn L được đăng trên báo Công lý 03 số liên tiếp, số 103 ngày 26/12/2018, số 104 ngày 28/12/2018 và số 1 + 2 ngày 02/01/2019 và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp là các ngày 07/01/2019, ngày 08/01/2019 và ngày 09/01/2019. Nay đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Sơn Văn L còn sống hay đã chết. Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam cũng xác nhận anh Sơn Văn L bỏ đi biệt tích khỏi địa phương từ tháng 6/2011 cho đến nay không có tin tức, không trở về địa phương lần nào. Do đó chị Hoàng Thi L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng tuyên bố anh Sơn Văn L mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự được chấp nhận.

Chị Hoàng Thị Lam yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Sơn Văn L mất tích, không yêu cầu xem xét, giải quyết vấn đề nào khác nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về lệ phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 371 và 372 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 68 Bộ luật Dân sự. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích của chị Hoàng Thị L.

Tuyên bố anh Sơn Văn L, sinh năm 1979; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam mất tích.

2. Lệ phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001451 ngày 04 tháng 12 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chị L đã nộp đủ.

Chị Hoàng Thị L có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Anh Sơn Văn L có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ