vanban.org

Quyết định 03/2019/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng: Điều 149,361; 367; 369; 370; 387; 388, và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuyên bố: Anh Mai Văn T - Sinh năm: 1975; nơi cư trú cuối cùng Tổ 04, thôn Lồ, xã ĐB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu mất tích từ ngày 01/01/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Vụ Nguyễn Thị B và Mai Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN ND HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2019/QĐDS-ST
Ngày: 21-01-2019
V/v: “Tuyên bố một người mất tích”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Đào Trọng Hải - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Tạ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tham gia phiên họp: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 112/2018/TLST-VDS ngày 15tháng 8 năm 2018 về “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2019/QĐPHDS-ST ngày 07 tháng 01năm 2019.

1. Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1978

Địa chỉ: Tổ 22, thôn SC, xã NT, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

2. Người bị yêu cầu: Ông Mai Văn T, sinh năm: 1975

HKTT: Tổ 04, thôn L, xã ĐB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 04, thôn L, xã ĐB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Nguyễn Thị B yêu cầu Tòa án tuyên bố Ông Mai Văn T, sinh năm: 1975 mất tích.

HKTT: Tổ 04, thôn L, xã ĐB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 04, thôn L, xã ĐB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

(Bà B vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt).

Theo đơn yêu cầu, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp người yêu cầu bà Nguyễn Thị B trình bày:

Bà Nguyễn Thị B và anh Mai Văn T quen biết một thời gian thì đăng ký kết hôn vào ngày 08/6/2006 tại Ủy ban nhân dân xã ĐB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau khi kết hôn thì vợ chồng về sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn nhưng không thường xuyên, vợ chồng hay cải vã, xích mích, không còn tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau. Bà Nguyễn Thị B đã cố gắng hàn gắn lại hạnh phúc để vợ chồng chung sống lo cho con chung. Đến năm 2008 thì anh T đi làm ăn xa, thời gian đầu còn liên lạc hỏi thăm gia đình. Nhưng từ năm 2015 anh T tự bỏ nhà đi khỏi địa phương cho đến nay không thấy về và cũng không có tin tức gì của anh T. Khi đi anh T không thông báo cho gia đình biết là đi đâu. Từ năm 2015 gia đình đã nhiều lần tổ chức đi tìm anh Mai Văn T nhưng không đạt kết quả. Hiện nay gia đình cũng không biết anh T sống hay đã chết, nơi cư trú cuối cùng trước khi anh T bỏ đi là Tổ 04, thôn L, xã ĐB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Chị Nguyễn Thị B làm đơn xác nhận anh Mai Văn T bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2015 cho đến nay. Nay chị B yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T mất tích để chị B khởi kiện xin ly hôn.

Trong quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung: Cháu Mai Hữu L, sinh ngày: 26/9/2002; Mai Hoài A, sinh ngày: 28/3/2006 hiện các cháu sống với chị B.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ khi Tòa án thụ lý và có thông báo tìm kiếm anh T trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng gia đình cũng không nhận tin tức gì của anh T.

Theo xác nhận của chính quyền thì anh T đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2015 cho đến nay. Nay chị B yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Mai Văn T mất tích.

Về con chung: Hiện 02 cháu Mai Hữu L, sinh ngày: 26/9/2002; Mai Hoài A, sinh ngày: 28/3/2006 hiện các cháu sống với chị B.

Về tài sản chung, nợ chung không có và không yêu cầu giải quyết.

Mục đích yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Mai Văn T mất tích để chị Nguyễn Thị B xin ly hôn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức phát biều ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng trong vụ việc:

Tòa án huyện Châu Đức thụ lý vụ việc đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội dung yêu cầu, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng mở phiên họp thực hiện đúng nguyên tắc giải quyết việc dân sự trong phiên họp sơ thẩm.

Người yêu cầu chấp hành đúng theo quy định pháp luật về Tố tụng dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Nguyễn Thị B tuyên bố anh Mai Văn T mất tích.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự tại phiên họp; nghe ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức về việc giải quyết việc dân sự, nhận định:

Về tố tụng: Anh Mai Văn T là chồng của chị Nguyễn Thị B (theo giấy chứng nhận kết hôn số 31 do UBND xã ĐB, huyện Châu Đức, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cấp ngày 08/6/2006) nên chị B có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T mất tích theo qui định của pháp luật. Nơi cư trú cuối cùng của anh T biệt tích là xã ĐB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, vì vậy việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức theo qui định tại điều 27, 35 và điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Anh Mai Văn T và chị Nguyễn Thị B cưới nhau và đăng ký kết hôn ngày 08/6/2006 tại Ủy ban nhân dân xã ĐB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Đến năm 2015 thì anh Mai Văn T trong thời gian đì làm xa nhà rồi bỏ đi luôn không về nữa, chị Nguyễn Thị B đã tìm kiếm không thấy và trình báo với Chính quyền địa phương về việc anh Mai Văn T đi khỏi địa phương. Chính quyền địa phương cũng đã xác nhận anh T đã bỏ đi khỏi địa phương đi từ năm 2015 đến nay không có tin tức gì.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố anh Mai Văn T mất tích của chị Nguyễn Thị B (vợ của anh Mai Văn T). Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Mai Văn T; đã đăng tải nội dung Quyết định thông báo trên các phương tiện thông tin trên Báo công lý các số 70; 71, 72 vào các ngày 31/8 và ngày 05,07/9/2018; và trên Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam thời gian từ 11h50 từ ngày 5,6,7 tháng 9 năm 2018 nhưng vẫn không thấy, và cũng không có một tin tức gì về anh Mai Văn T, không ai biết về anh Mai Văn T ở đâu. Nay chị B xin tuyên bố anh Mai Văn T, sinh năm: 1975 mất tích từ năm 2015 để chị Nguyễn Thị B làm thủ tục xin ly hôn.

Xét việc anh Mai Văn T biệt tích từ năm 2015 đến nay đã quá 02 năm, mặc dù Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về anh Mai Văn T còn sống hay đã chết nên chị Nguyễn Thị B là vợ của anh Mai Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Mai Văn T mất tích là có căn cứ nghỉ nên chấp nhận.

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các điều 361; 367; 369; 370; 387, 388 và 389 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; tuyên bố anh Mai Văn T, sinh năm: 1975 mất tích từ ngày 01/01/2016.

Lệ phí: Căn cứ điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoàn 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Chị Nguyễn Thị B phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng: Điều 149,361; 367; 369; 370; 387; 388, và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1. Tuyên bố: Anh Mai Văn T - Sinh năm: 1975; nơi cư trú cuối cùng Tổ 04, thôn Lồ, xã ĐB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu mất tích từ ngày 01/01/2016.

2. Lệ phí việc dân sự: Chị Nguyễn Thị B phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng lệ phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí chị Nguyễn Thị B đã nộp tại chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai 0003329 ngày 15/8/2018, chị Nguyễn Thị B đã nộp xong lệ phí.

3. Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp

Cỡ chữ