vanban.org

Quyết định 03/2018/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Q. Đồ Sơn, TP. Hải Phòng Tuyên án 11/10/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị C, tuyên bố anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: Tổ B, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị C phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai số 0006813 ngày 19-4-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chị Hoàng Thị C tuyên bố anh Nguyễn Đình T mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị C, tuyên bố anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: Tổ B, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỒ SƠN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2018/QĐST-VDSĐồ Sơn, ngày 11 tháng 10 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Hữu Trường

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Đỗ Thị Quỳnh Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2018/TLST-VDS ngày 19 tháng 4 năm 2018 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2018/QĐST-VDS ngày 03 tháng 10 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Hoàng Thị C, nơi ĐKHKTT: Tổ B, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Thôn H, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại Đơn yêu cầu và bản tự khai, chị Hoàng Thị C trình bày: Chị và anh Nguyễn Đình T kết hôn từ năm 2011. Sau khi kết hôn, chị và anh T chung sống cùng gia đình anh T tại tổ B, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Do mâu thuẫn gia đình, chị và anh T đã sống ly thân từ năm 2014, chị về sinh sống tại thôn H, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Từ đó đến nay chị không liên lạc gì với anh T. Đến nay, chị có nguyện vọng ly hôn nhưng khi liên lạc với anh T để giải quyết việc ly hôn thì không liên lạc được. Chị được gia đình anh T cho biết là anh T đã đi làm ăn xa từ đầu năm 2015. Từ đó đến nay, gia đình anh T không biết anh T ở đâu, không có tin tức của anh T và không liên lạc được với anh T. Do đó, để Tòa án có căn cứ giải quyết ly hôn và đảm bảo quyền lợi của chị, chị đề nghị Tòa án tuyên bố anh T mất tích.

Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, chấp nhận yêu cầu của chị C về việc tuyên bố anh T là người mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Chị Hoàng Thị C yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Đình T mất tích. Đây là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nơi cư trú cuối cùng anh T là: Tổ B, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quyền yêu cầu: Chị C và anh T là vợ chồng nên chị C có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T mất tích.

Xét yêu cầu của chị C:

Lời khai của chị C phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, xác định: Sau khi kết hôn vào năm 2011, chị C và anh T chung sống cùng gia đình anh T tại tổ B, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Do mâu thuẫn gia đình, chị và anh T đã sống ly thân từ năm 2014, chị về sinh sống Thôn H, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Từ khoảng đầu năm 2015, anh T đi làm ăn xa. Từ đó đến nay, anh T không về địa phương. Tổ trưởng Tổ dân phố B, phường B, Công an phường B và bố đẻ của anh T đều xác nhận việc anh T đã đi khỏi địa phương từ khoảng đầu năm 2015, không khai báo gì với chính quyền địa phương. Từ đó đến nay, không thấy anh T quay về địa phương sinh sống.

Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và đăng thông báo trên Cổng thông tin điện tử của UBND thành phố Hải Phòng vào ngày 24-5-2018; Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao vào các ngày 29, 30 và 31-5-2018; trên Báo Công lý vào ngày 30-5-2018, ngày 01 và 06-6-2018; phát thông báo trên Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 02, 03 và 04-6-2018. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm lần đầu tiên, Tòa án vẫn chưa nhận được tin tức gì của anh T.

Xét thấy, anh T đã biệt tích từ khoảng đầu năm 2015 đến nay, mặc dù Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh T còn sống hay đã chết nên đủ cơ sở để Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của chị C, tuyên bố anh T mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về lệ phí: Chị C phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm theo khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về quyền kháng cáo: Chị C có quyền kháng cáo quyết định theo Điều 371 và khoản 1 Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị C, tuyên bố anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: Tổ B, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị C phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai số 0006813 ngày 19-4-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; chị C đã nộp đầy đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Chị C có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ