- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố anh Trần Văn S, sinh năm 1974; nơi cư trú cuối cùng phố M, thị trấn M, huyện V, tỉnh N mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2018/QĐST – DS | V, ngày 07 tháng 12 năm 2018. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Tuyên bố một người mất tích”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH N
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hà Thiện Thành
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Hồng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên họp: Bà Tạ Thị Huyền - Kiểm sát viên .
Trong ngày 07/12/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2018/TLST – DS ngày 06 tháng 7 năm 2018, về việc yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2018/QĐPH-DS ngày 27 tháng 11 năm 2018 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Lê Thị N, sinh năm 1944; trú tại phố M, thị trấn M, huyện V, tỉnh N. (Có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Văn S, sinh năm 1974; nơi cư trú cuối cùng phố M, thị trấn M, huyện V, tỉnh N.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Ngày 03 tháng 05 năm 2018 bà Lê Thị N, sinh năm 1944. Trú tại: Phố M, thị trấn M, huyện V, tỉnh Ninh B có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N tuyên bố anh Trần Văn S, sinh năm: 1974 nơi cư trú cuối cùng phố M, thị trấn M, huyện V, tỉnh N mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N nhận định:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Bà Lê Thị N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N tuyên bố anh Trần Văn S mất tích, anh S có nơi cư trú cuối cùng tại phố M, thị trấn M, huyện V, tỉnh N. Đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N theo quy định tại khoản 3 Điều 27; Điều 35; khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Lê Thị N và anh Trần Văn S có quan hệ mẹ con nên bà Lê Thị N có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Trần Văn S mất tích theo quy định tại Điều 387 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào biên bản xác minh tại UBND thị trấn Me, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình là nơi cư trú cuối cùng của anh Trần Văn S và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ việc dân sự cho thấy: Anh Trần Văn S không còn cư trú và đi khỏi địa phương từ năm 1990 đến nay không có tin tức gì. Địa phương và gia đình không biết anh S ở đâu, còn sống hay đã chết. Bản thân bà N và gia đình đã nhiều lần đi tìm kiếm nhưng không có kết quả. Toà án nhân dân huyện V đã ra thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 17/2018/TB-TA ngày 16/7/2018, nhắn tìm anh Trần Văn S trên các phương tiện thông tin đại chúng, bà Lê Thị N đã làm đầy đủ thủ tục thông báo, nhắn tìm trên Đài tiếng nói Việt Nam trong 03 ngày liên tiếp, từ ngày 15, 16 và 17 tháng 8 năm 2018 và nhắn tim anh Trần Văn S trên Báo Công Lý 03
̀
số báo liên tiếp 60, 61, 62 ra vào các ngày 27 tháng 7 và ngày 01, 03 tháng 8 năm 2018. Đến nay thời hạn thông báo tìm kiếm người vắng mặt đã trên 4 tháng kể từ ngày đăng thông tin tìm kiếm lần đầu tiên, nhưng vẫn không có tin tức gì về anh Trần Văn S. Như vậy, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị N về việc yêu cầu tuyên bố anh Trần Văn S mất tích theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự.
Thẩm phán, chủ tọa phiên họp đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ việc dân sự cho đến tại phiên họp giải quyết việc dân sự. Đương sự chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Đề nghị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N áp dụng Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27; Điều 35; khoản 2 Điều 39; các Điều 149, 369, 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị N ra quyết định tuyên bố anh Trần Văn S, sinh năm 1974; nơi cư trú cuối cùng phố M, thị trấn M, huyện V, tỉnh N mất tích. Miễn lệ phí dân sự sơ thẩm cho bà Lê Thị N.
Về lệ phí tòa án: Căn cứ vào Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bà Lê Thị N là người cao tuổi có đơn đề nghị miễn lệ phí. Do vậy, cần miễn lệ phí dân sự sơ thẩm cho bà Lê Thị N.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27; Điều 35; khoản 2 Điều 39; các Điều 149, 369, 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
1. Tuyên bố anh Trần Văn S, sinh năm 1974; nơi cư trú cuối cùng phố M, thị trấn M, huyện V, tỉnh N mất tích.
2. Về lệ phí tòa án: Miễn lệ phí dân sự sơ thẩm cho bà Lê Thị N.
3. Bà Lê Thị N có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày công bố quyết định. Viện kiểm sát nhân dân các cấp có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
| Nơi nhận - Toà án ND tỉnh N; - VKSND huyện V; - Chi cục Thi hành án V; - UBND thị trấn M; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Hà Thiện Thành |