- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Anh C yêu cầu tuyên bố chị L mất tích"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: Áp dụng: Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 361; khoản 3, Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 387; Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 01 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2018/QĐDS-ST Ngày 25 tháng 5 năm 2018 V/v: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
* Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ánh Dương – Thẩm phán.
* Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên .
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bộ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25/5/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 13/2017/TLST- DS ngày 06/12/2017 về “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 13/2018/QĐPH-ST ngày 10/5/2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Anh Phạm Khả C, Sinh năm 1986 ( Có mặt)
Nơi cư trú: thôn B, xã Ng, huyện T, tỉnh B.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị L, Sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Nơi cư trú cuối cùng: thôn B, xã N, huyện T, tỉnh B.
* Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Theo đơn yêu cầu ghi ngày 02/10/2017 và những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên họp sơ thẩm anh Phạm Khả C trình bày:
Anh và chị L kết hôn với nhau ngày 22/4/2013 và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T. Sau đó vợ chồng anh và chị L về sinh sống tại địa chỉ: thôn B, xã N, huyện T, tỉnh B. Trong quá trình sinh sống giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát, bất đồng quan điểm sống, chị L không có trách nhiệm và không quan tâm đến anh. Đến tháng 01/2014 dương lịch thì vợ anh là chị Nguyễn Thị L bỏ nhà đi đến nay. Từ đó đến nay gia đình anh và gia đình chị L không ai nhận được tin tức gì của chị L. Chị L cũng không liên lạc hoặc viết thư gì nữa. Nay, anh C đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị L mất tích.
Tại biên bản xác minh ngày 13/12/2017 ông Phạm Khả T và bà Nguyễn Thị T là bố mẹ chồng của chị L cho biết: Chị L sau khi kết hôn với anh C thì về gia đình ông bà làm dâu dược gần 03 tháng rồi tự ý bỏ đi từ ngày 10/01/2014 đến nay không về nhà lần nào. Khi chị L bỏ nhà đi ông, bà và con trai có đi tìm kiếm và về gặp mẹ đẻ chị L thì được biết chị L cũng không về mẹ đẻ, không liên lạc với gia đình và gia đình không có tin tức, không biết hiện nay chị L ở đâu.
Tại biên bản xác minh ngày 13/12/2017 Công an xã N, huyện T cho biết: Chị Nguyễn Thị L có đăng ký hộ khẩu, cư trú, sinh sống tại xã N và có chồng là anh Phạm Khả C. Chị L không có mặt tại địa phương từ ngày 10/01/2014 đến nay và không biết chị L ở đâu, làm gì.
Sau khi Tòa án thụ lý việc dân sự đã thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị L trên phương tiện thông tin đại chúng. Đã hết thời hạn thông báo 4 tháng theo Điều 388 BLTTDS nhưng không nhận được tin tức gì của chị Nguyễn Thị L.
Tại phiên họp hôm nay anh C giữ nguyên yêu cầu đề nghị tuyên bố chị Nguyễn Thị L mất tích. Ngoài ra anh C không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phạm Khả C tuyên bố chị Nguyễn Thị L mất tích.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, nhận định:
Nơi cư trú cuối cùng của chị Nguyễn Thị Liễu được xác định: thôn Bỉ, xã Ngọc Thiện, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Chị Liễu bỏ nhà đi từ tháng 10/01/2014 dương lịch. Từ đó đến nay chị Liễu không liên lạc với gia đình và địa phương. Anh Công và gia đình đã tổ chức đi tìm kiếm nhưng không có kết quả. Tòa án đã thông báo tìm kiếm chị Liễu trên các phương tiện thông tin đại chúng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng vẫn không có tin tức về chị Liễu. Nay anh Công có đơn đề nghị tuyên bố chị Nguyễn Thị Liễu mất tích. Nên cần chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phạm Khả Công và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, tuyên bố chị Nguyễn Thị Liễu mất tích theo quy định tại Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
* Căn cứ: Áp dụng: Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 361; khoản 3, Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 387; Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 01 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Khả C.
2. Tuyên bố chị Nguyễn Thị L, Sinh năm 1990
Nơi cư trú cuối cùng: thôn B, xã Ngọc T, huyện T, tỉnh B mất tích kể từ ngày 25/5/2018.
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Phạm Khả C phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí dân sự sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí Phạm Khả C đã nộp tại biên lai số: AA/2016/0003992 ngày 06/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, anh Phạm Khả C đã nộp đủ tiền lệ phí sơ thẩm.
4. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định này được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Tân Yên; - Chi cục THADS Tân Yên; - Người tham gia tố tụng; - UBND xã N; - Lưu hồ sơ, VP. | Thẩm phán Nguyễn Ánh Dương |