vanban.org

Quyết định 03/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị T về việc tuyên bố anh Đỗ Phước Q mất tích.

Chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm: Chị Trần Thị T phải chịu 2.850.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo trên đài tiếng nói Việt Nam và đăng báo công lý, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 2.850.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Lệ phí giải quyết việc dân sự s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị T về việc tuyên bố anh Đỗ Phước Q mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL,
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2018/QĐDS-ST
Ngày: 26 – 3- 2018
V/v yêu cầu tuyên bố
một người mất tích.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG.

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Trung Dũng - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Ông Đỗ Xuân Hải - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên họp: Bà Võ Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông mở phiên họp công khai sơ thẩm giải quyết việc dân sự thụ lý số: 119/2017/TLST-VDS ngày 19/10/2018 v/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số: 04/QĐPHST ngày 15/3/2018.

1. Người yêu cầu: Chị Trần Thị T, sinh năm 1986, trú tại: Thôn T Hạnh, xã T An, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông (Có mặt).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Phước Q, sinh năm 1984; đăng ký hộ khẩu và nơi cứ trú cuối cùng: Thôn T Hạnh, xã T An, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông (Vắng mặt).

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Chị Trần Thị T yêu cầu tuyên bố anh Đỗ Phước Q mất tích.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil nhận định:

1. Về tố tụng: Chị Trần Thị T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil tuyên bố mất tích đối với anh Đỗ Phước Q, đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã T, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, giữa các đương sự không có sự tranh chấp nên đây là việc dân sự và Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông thụ lý và giải quyết việc dân sự là đúng với thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Về nội dung yêu cầu tuyên bố mất tích:

Chị Trần Thị T và anh Đỗ Phước Q kết hôn với nhau vào ngày 27/6/2012, có đăng ký kết hôn (năm 2012) tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Trong quá trình chung sống, chị T và anh Q có 01 con chung là cháu Đỗ Thị Mai S, sinh ngày 24/01/2013. Sau khi kết hôn, chị T và anh Q chung sống tại thôn T, xã T, huyện Đắk Mil đến tháng 5/2013 anh Q bỏ đi khỏi địa phương nhưng không rõ lý do, có xác nhận của Công an xã T, huyện Đắk Mil.

Trong quá trình tìm kiếm, chị Trần Thị T đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Đỗ Phước Q trên Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng vào lúc 17h50 phút các ngày 09, 10, 11/6/2017 và đăng Báo Công lý trên ba số liên tiếp 45, 46, 47 các ngày 7, 9, 10/6/2017. Căn cứ theo thời gian anh Q bỏ đi khỏi địa phương thì việc thông báo tìm kiếm của chị T là có căn cứ theo quy định của pháp luật; Hết thời hạn thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Q. Vì vậy, chị Trần Thị T làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Đỗ Phước Q mất tích.

Trong quá trình giải quyết theo yêu cầu của chị T, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm đối với anh Đỗ Phước Q cụ thể: Thông báo trên Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng vào lúc 17h50 phút vào các ngày 15, 16, 17/11/2017 và đăng báo Công lý trên ba số liên tiếp 91, 92, 93 ra các ngày 15, 17, 22/11/2017; đã hết thời hạn thông báo theo quy định nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Q.

Theo lời khai của bà Lê Thị B (mẹ đẻ của anh Q) và anh Đỗ Phước Q (anh trai ruột của anh Q): Anh Q có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã T, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Trong quá trình sinh sống, vào tháng 5/2013 anh Q bỏ nhà đi khỏi địa phương không có lý do. Từ ngày bỏ đi đến nay, anh Q không liên lạc về cho gia đình và gia đình không biết tin tức của anh Q.

Khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự quy định:

“Điều 68. Tuyên bố một người mất tích

1. Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.”

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên họp: Thẩm phán, thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án đã thụ lý và giải quyết theo đúng trình tự, thẩm quyền theo quy định.

Về nội dung việc dân sự: Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 387, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị T.

Từ những phân tích trên, Tòa án thấy việc chị Trần Thị T yêu cầu tuyên bố anh Đỗ Phước Q mất tích là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu.

3.Về chi phí đăng, phát thông báo: Chị Trần Thị T phải chịu chi phí đăng, phát thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị T phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và Điều 39 và các Điều: 367, 369, 370, 372, 385, 387, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị T về việc tuyên bố anh Đỗ Phước Q mất tích. Tuyên bố anh Đỗ Phước Q mất tích.

2. Chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm: Chị Trần Thị T phải chịu 2.850.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo trên đài tiếng nói Việt Nam và đăng báo công lý, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 2.850.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

3. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị T phải nộp 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu phí số 0004913 ngày 18/10/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, đương sự vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn này được tính từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ