- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị X - Nguyễn Văn K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị X về việc yêu cầu xác định ông Nguyễn Văn K là cha ruột của bà X.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2017/QĐDS-ST Ngày: 21/12/2017. V/v: “Yêu cầu xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Đạt - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương Trang - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên họp: Bà Huỳnh Thị Chấm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 351/2017/TLST-VDS ngày 22 tháng 11 năm 2017 về yêu cầu “Xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp số: 94/2017/QĐPH-ST ngày 11 tháng 12 năm 2017.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Dương Thị X, sinh năm 1965 (có mặt).
Trú tại: ấp T, xã T1, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Đối với: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1941 (chết).
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị L, sinh năm 1945 (có mặt).
Trú tại: ấp T, xã T1, huyện M, tỉnh Bến Tre.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Dương Thị X là con ruột của ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị L, ông K và bà L chung sống như vợ chồng từ năm 1960, đến năm 1962 bà L sinh được 01 người con là bà X nhưng do hoàn cảnh chiến tranh nên không có làm giấy khai sinh. Ông K đã chết vào ngày 26/7/1968 trong sự nghiệp chống đế quốc Mỹ bảo vệ tổ quốc. Sau khi ông K chết, bà L đã chung sống như vợ chồng với ông Dương Văn R (đã chết), để thuận tiện cho việc học hành nên bà L đã khai trong giấy khai sinh của bà X là họ tên Dương Thị X theo họ của ông R và thay đổi năm sinh là 1965 nhưng giấy khai sinh này đã bị thất lạc; còn giấy khai sinh của bà Dương Thị X hiện nay là do bà X tự đăng ký khai sinh lại tại Ủy ban nhân dân xã T1 vào ngày 07/9/2016 và bà X tự khai họ tên cha mình trong giấy khai sinh là ông Nguyễn Văn K. Nay bà X yêu cầu Tòa án xác định ông Nguyễn Văn K là cha ruột của bà X để bà X được cải chính họ trong giấy khai sinh theo họ của ông K.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc nhận định:
Căn cứ vào lời trình bày của bà Lê Thị L (mẹ ruột bà Dương Thị X) tại phiên họp: ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị L chung sống như vợ chồng từ năm 1960, đến năm 1962 bà L sinh được 01 người con là bà X. Căn cứ vào giấy báo tử đề ngày 10/11/1977 thể hiện ông Nguyễn Văn K đã chết vào ngày 26/7/1968 trong sự nghiệp chống đế quốc Mỹ bảo vệ tổ quốc. Căn cứ vào giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ đề ngày 05/01/2017, các đơn xin xác nhận của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị R, bà Nguyễn Thị K, ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn M - các anh em ruột của ông Nguyễn Văn K - đều xác nhận: bà Lê Thị L là vợ của ông Nguyễn Văn K (vợ liệt sĩ), bà Dương Thị X là con ruột của ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị L.
Căn cứ vào Điều 88, 90 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng…; Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết…”. Theo bà L trình bày: ông K và bà L đã chung sống như vợ chồng từ năm 1960, đến năm 1962 bà L sinh được 01 người con là bà X, đến năm 1968 ông K chết. Do đó, có căn cứ xác định bà X được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của bà L và ông K nên xác định bà X là con chung của vợ chồng bà L và ông K.
Từ những căn cứ trên, có đủ cơ sở xác định: bà Dương Thị X là con ruột của ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị L. Do đó, bà Dương Thị X yêu cầu Tòa án xác định ông Nguyễn Văn K là cha ruột của bà X là có cơ sở để chấp nhận.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành pháp luật tốt.
- Về nội dung: đề nghị Tòa án áp dụng Điều 88, 90, 101 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị X về việc yêu cầu xác định ông Nguyễn Văn K là cha ruột của bà X.
Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
Bà Dương Thị X phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 88, 90, 101 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị X về việc yêu cầu xác định ông Nguyễn Văn K là cha ruột của bà X.
Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: bà Dương Thị X phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 000xxxx ngày 22/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc nên bà không còn phải nộp thêm.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc; - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc; - UBND xã T1; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN Nguyễn Ngọc Đạt |