- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định giải quyết việc dân sự "Tuyên bố một người mất tích" của anh Lê Văn M"
- Tòa quyết gì? Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Căn cứ vào Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án anh Lê Văn M phải chịu 300.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2017/QĐDS-ST Ngày: 28-12-2017 V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Bà Phùng Thị Hương Giang - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Huyền Thương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tham gia phiên họp:
Bà Đặng Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01 /2017/TLST-VDS ngày 09 tháng 5 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2017/QĐPH-ST ngày 25 tháng 12 năm 2017.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lê Văn M – sinh năm 1966.
Trú tại: Xóm H, xã T, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
Có mặt.
2. Người bị yêu cầu: Chị Nguyễn Thị H – sinh năm 1970.
Nơi cư trú cuối cùng trước lúc bỏ đi: Xóm H, xã T, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
3. Người làm chứng:
3.1. Anh Lê Văn Đ – sinh năm 1997
Trú tại: Xóm H, xã T, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt.
3.2. Anh Nguyễn Văn T
Trú tại: Xóm 5, xã M, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
4. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Anh Lê Văn M kết hôn với chị Nguyễn Thị H vào ngày 22 tháng 6 năm 1990, hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 (hai) con chung là Lê Tiến Đ, sinh ngày 12/12/1990 và Lê Văn Đ, sinh ngày 10/7/1997. Vào năm 2007 chị H đi xuất khẩu lao động tại Malayxia. Năm 2012 chị H về nước ở với chồng con được một tháng thì bỏ đi biệt tích không có lý do, từ đó đến nay không có tin tức gì. Mặc dù anh và các con đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không có kết quả, anh em, họ hàng nội ngoại, bạn bè không ai biết chị H đi đâu, làm gì. Anh cũng đã yêu cầu tòa án đăng tin thông báo tìm kiếm chị H trên các phương tiện thông tin đại chúng của trung ương theo quy định của pháp luật nhưng đều không có kết quả. Nay anh yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị H mất tích. Khi chị H đi không có tài sản gì để lại cho gia đình nên anh M không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa nhận định: chị Nguyễn Thị H đã bỏ gia đình và địa phương đi biệt tích từ năm 2012 cho đến nay. Như vậy thời gian chị H bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay đã được 5 năm, không có tin tức xác thực gì mặc dù anh M đã tìm kiếm chị H nhiều nơi, áp dụng mọi biện pháp thông báo, tìm kiếm. Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa đã ra Quyết định tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị H và đăng tin tìm kiếm trên báo Công lý số 63 ngày 09/8/2017, số 64 ngày 11/8/2017; số 65 ngày 16/8/2017 và thông báo lên đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 22, 23, 24 tháng 8 năm 2017. Như vậy tính đến nay cũng đã hơn 04 tháng nhưng không có kết quả gì, không có tin tức xác thực về việc chị H còn sống hay đã chết.
Để đảm bảo quyền lợi cho anh M và theo quy định tại điều 68 Bộ luật dân sự; các điều 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự thì có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị H mất tích theo yêu cầu của anh Lê Văn M cũng như ý kiến đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tại phiên họp.
Anh M không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Lê Văn M phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự; Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; khoản 2 Điều 67 và các Điều 370; 371; 372; 389 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn M. Tuyên bố chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1970; Nơi cư trú cuối cùng trước lúc bỏ đi: Xóm H, xã T, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An mất tích.
Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Căn cứ vào Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án anh Lê Văn M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Anh M đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0007504 ngày 09/5/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
Phiên họp sơ thẩm công khai, người yêu cầu anh Lê Văn M có mặt được quyền kháng cáo quyết định này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 10 ngày, kế từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cung cấp có quyền khỏng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa; - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thái Hòa; - UBND xã T; - Lưu HSVA. | THẨM PHÁN Phùng Thị Hương Giang |