- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Anh Trần Khắc T yêu cầu tuyên bố chị Trần Thị T1 mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Khắc T. Tuyên bố: Chị Trần Thị T1-sinh năm 1968, quê quán: Xã A, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú cuối cùng: Khu 1, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/QĐST- VDS | Đ, ngày 25 tháng 6 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Minh Hòa
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai Lan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên họp: Bà Vũ Kim Duyên- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2021/TLST- VDS ngày 12 tháng 01 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/QĐST- VDS, ngày 04 tháng 6 năm 2021 và Thông báo mở lại phiên họp số 01, ngày 16 tháng 6 năm 2021 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Trần Khắc T- sinh năm 1972; nơi cư trú: Khu 3, xã A, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 12/01/2021 và các lời khai tiếp theo, người yêu cầu là anh Trần Khắc T trình bày:
Bố mẹ anh là ông Trần Văn Kh sinh năm 1939 và bà Trần Thị T3 sinh năm 1942. Bố mẹ anh sinh được 04 người con là Trần Thị T1 sinh năm 1968, Trần Khắc T sinh năm 1972, Trần Thị T4 sinh năm 1977, Trần Thị Kh1 sinh năm 1983. Hiện nay bố mẹ anh đều đã chết, hai em gái anh đang sinh sống tại tỉnh Yên Bái. Còn chị Trần Thị T1, vào năm 1990 lấy anh Đỗ Văn K ở xã B, huyện Đ và chuyển khẩu theo chồng về xã B sinh sống. Trong năm 1990 chị T1 sinh 01 con trai là Đỗ Văn D. Cuối năm 1991 chị T1 từ xã B bỏ đi, sau đó không thấy về. Anh K đã thông báo cho gia đình anh; hai bên gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không thấy. Từ đó đến nay chị T1 không trở về, cũng không có tin tức hoặc liên lạc gì. Anh K chồng chị T1 đã chết ngày 26/12/2020. Cháu D là con chung của chị T1 và anh K hiện nay đang ở miền nam, địa chỉ cụ thể anh không rõ. Anh đã tìm kiếm chị T1 và đề nghị Tòa án thông báo tìm kiếm trên Báo Công lý, Đài Tiếng nói Việt Nam, nhưng hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát lần đầu tiên vẫn không có kết quả. Anh yêu cầu Tòa án tuyên bố chị T1 mất tích để anh giải quyết việc trong gia đình. Chị Trần Thị T1 không có tài sản, nên anh không yêu cầu quản lý tài sản của chị T1.
Công an xã A, huyện H, tỉnh Phú Thọ xác nhận: Công dân Trần Khắc T sinh năm 1972, có hộ khẩu T1 trú tại khu 3, xã A, huyện H, tỉnh Phú Thọ, có chị gái là Trần Thị T1 sinh năm 1968, từ nhỏ sống cùng gia đình, đến năm 1990 lấy chồng, đi khỏi địa phương và không xác định được địa chỉ cụ thể.
Đại diện UBND xã B và Công an xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ cung cấp: Năm 1990 chị Trần Thị T1 sinh năm 1968 quê quán xã A, huyện H, tỉnh Phú Thọ đến xã B chung sống với anh Đỗ Văn K, đến năm 1991 sinh 01 con trai. Khoảng năm 1991, 1992 chị T1 rời khỏi địa phương không rõ đi đâu, làm gì. Hiện chị T1 không có hộ khẩu T1 trú hay cư trú tại địa phương.Anh K đã chết tháng 12/2020; con trai của anh K, chị T1 hiện không sinh sống tại địa phương, không rõ đang ở đâu.
Anh Đỗ Văn C sinh năm 1977, trú tại khu 1, xã B là em trai anh Đỗ Văn K cung cấp thông tin: Sau khi chị T1 rời khỏi xã B vào cuối năm 1992, đến tháng 7/2018 có quay về thăm gia đình anh, ăn một bữa cơm rồi lại đi ngay. Từ đó đến nay không ai biết tin tức gì về chị T1.
Tại phiên họp, anh Trần Khắc T giữ nguyên yêu cầu tuyên bố chị Trần Thị T1 mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng: Đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Chị Trần Thị T1 đã biệt tích trên 02 năm, không có tin tức xác thực chị T1 còn sống hay đã chết. Anh Trần Khắc T đã tìm kiếm và thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật nhưng đến nay đã quá thời hạn 04 tháng vẫn không có tin tức gì của chị T1. Vì vậy, đề nghị Tòa án căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của anh Trần Khắc T, tuyên bố chị Trần Thị T1 mất tích. Do anh T không có yêu cầu quản lý tài sản của chị T1 nên không xem xét.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Miễn toàn bộ cho anh T do anh T là cá nhân thuộc hộ nghèo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đ nhận định:
[1]. Về tố tụng: Anh Trần Khắc T là em ruột của chị Trần Thị T1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 387 Bộ luật tố tụng dân sự, anh T là người có quyền yêu cầu tuyên bố chị Trần Thị T1 mất tích. Nơi cư trú cuối cùng của chị T1 trước khi biệt tích là khu 1, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vì vậy, căn cứ đơn yêu cầu của anh T, Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” đối với chị T1 là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
. Người biết được tin tức cuối cùng của chị Trần Thị T1 là anh Đỗ Văn C sinh năm 1977, cư trú tại khu 1, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Anh C chỉ xác định đã gặp chị T1 lần cuối cùng vào tháng 7/2018, nên thời hạn để tính chị T1 biệt tích là ngày đầu tiên của tháng tiếp theo, tức là ngày 01/8/2018, tính đến nay đã trên 02 năm.
. Theo yêu cầu của anh Trần Khắc T, ngày 29/01/2021 Tòa án nhân dân huyện Đ đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 02/2021/QĐ- TA đối với chị Trần Thị T1. Thông báo tìm kiếm này đã được phát trên kênh VOV2 của Đài Tiếng nói Việt Nam vào lúc 17 giờ 30 phút các ngày 03, 04, 05/02/2021 và đăng trên báo Công lý trong 03 số báo liên tiếp 18+19, 20, 21 ra các ngày 03, 10, 12/02/2021. Đến nay đã quá 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, chị T1 không trở về, cũng không có tin tức gì.
. Như vậy, chị Trần Thị T1 đã biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù anh Trần Khắc T đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật dân sự, nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị T1 còn sống hay đã chết. Vì vậy anh Trần Khắc T yêu cầu của Tòa án tuyên bố chị Trần Thị T1 mất tích là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự, cần chấp nhận.
. Anh Trần Khắc T xác định chị Trần Thị T1 không có tài sản, nên không yêu cầu quản lý tài sản của chị T1, vì vậy Tòa án không xem xét.
. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Do anh Trần Khắc T là cá nhân thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí và lệ phí, nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban T1 vụ Quốc hội để miễn toàn bộ lệ phí cho anh T.
. Nhận định trên cũng phù hợp ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tại phiên họp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các điều: 370, 372, 389 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Khắc T. Tuyên bố: Chị Trần Thị T1-sinh năm 1968, quê quán: Xã A, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú cuối cùng: Khu 1, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ mất tích.
2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn toàn bộ cho anh Trần Khắc T, do anh T là cá nhân thuộc hộ nghèo.
3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - UBND xã B; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Vũ Thị Minh Hòa |