vanban.org

Quyết định 02/QĐST-DS — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Nguyễn Văn T "tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú" đối với Trần Quốc C"
  • Tòa quyết gì? ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HOÁ, TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2019/QĐST-DS Thạnh Hóa, ngày 27 tháng 5 năm 2019

Số: 02/2019/QĐST-DS Thạnh Hóa, ngày 27 tháng 5 năm 2019

HUYỆN THẠNH HÓA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ V/v Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú TÒA ÁN

NHÂN DÂN H

UYỆN THẠNH HOÁ, TỈNH LONG AN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: - Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thật - Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Ngọc Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Ngọc - Kiểm sát viên. Trong ngày 27 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 52/2019/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2019 về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2019/QĐST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn Tuấn, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp 3, xã Tân Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga, sinh năm 1954; Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Thạnh Hoá, huyện Thạnh Hoa, tỉnh Long An - là người đại diện theo uỷ quyền của người yêu cầu (văn bản uỷ quyền ngày 04/4/2019). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quốc Cẩm, sinh năm 1979 và bà Đỗ Thị Ngọc Chung, sinh năm 1982; Nơi cư trú cuối cùng: Ấp 3, xã Tân Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ: Trong đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của ông Nguyễn Văn Tuấn, do bà Nguyễn Thị Thanh Nga đại diện theo uỷ quyền trình bày: Ngày 27/7/2018, vợ chồng ông Trần Quốc Cẩm và bà Đỗ Thị Ngọc Chung có vay của ông Nguyễn Văn Tuấn số tiền 162.000.000đ, lãi suất thoả

thuận 2%/tháng, thời hạn trả là 3 (ba) tháng, trả lãi hàng tháng, ông Cẩm và bà Chung có viết giấy mượn tiền của ông Tuấn. Đến hạn trả nợ, ông Tuấn đến nhà ông Cẩm nhiều lần yêu cầu ông Cẩm và bà Chung trả tiền nợ nhưng không gặp được ông Cẩm, bà Chung. Ông Tuấn đến chính quyền địa phương để báo tình hình và được địa phương xác định là ông Cẩm, bà Chung đã bỏ địa phương đi từ tháng 9/2018, không về nhà. Ông Cẩm và bà Chung không thông báo địa chỉ cho ông Tuấn, cũng như địa phương biết. Nay ông Nguyễn Văn Tuấn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Thạnh Hoá thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Trần Quốc Cẩm, sinh năm 1979 và bà Đỗ Thị Ngọc Chung, sinh năm 1982; Nơi cư trú cuối cùng: Ấp 3, xã Tân Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An phát biểu: Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến phiên họp giải quyết việc dân sự Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 234, 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Đề nghị Toà án nhân dân huyện Thạnh Hoá áp dụng Điều 383, 384 và Điều 385 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 64 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Tuấn, yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Trần Quốc Cẩm, sinh năm 1979 và bà Đỗ Thị Ngọc Chung, sinh năm 1982; Nơi cư trú cuối cùng: Ấp 3, xã Tân Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự, được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án

nhận định:

[1] Về tố tụng: Theo đơn yêu cầu, ông Tuấn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông ông Trần Quốc Cẩm, sinh năm 1979 và bà Đỗ Thị Ngọc Chung, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp 3, xã Tân Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Căn cứ vào khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu của ông Tuấn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thạnh Hoá. [2] Về nội dung: Ông Nguyễn Văn Tuấn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hoá thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Trần Quốc Cẩm, sinh năm 1979 và bà Đỗ Thị Ngọc Chung, sinh năm 1982; Nơi cư trú cuối cùng: Ấp 3, xã Tân Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Tại Giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Tân Đông, huyện Thạnh Hoá, xác nhận ông Cẩm, bà Chung có hộ khẩu thường trú tại Ấp 3, xã Tân Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An đã bỏ địa phương đi từ tháng 9/2018, không về nhà, không rõ đi đâu. Đồng thời,

trước khi chuyển hộ khẩu thường trú đến xã Tân Đông, huyện Thạnh Hoá thì ông Cẩm có hộ khẩu thường trú tại xã Tân Hoà Tây, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, còn bà Chung có hộ khẩu thường trú tại xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, nhưng từ khi ông Cẩm và bà Chung chuyển hộ khẩu đến xã Tân Đông thì không có về sinh sống tại hai địa phương nêu trên. Do đó, có đủ cơ sở xác định xã Tân Đông, huyện Thạnh Hoá, tỉnh Long An là nơi cư trú cuối cùng của ông Trần Quốc Cẩm và bà Đỗ Thị Ngọc Chung. Từ các tài liệu chứng cứ nêu trên đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn Tuấn về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Trần Quốc Cẩm và bà Đỗ Thị Ngọc Chung là phù hợp theo quy định tại Điều 64 Bộ luật dân sự; Điều 383 và Điều 384 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, việc ông Nguyễn Văn Tuấn có đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là có cơ sở nên được chấp nhận. Ý kiến của kiểm sát viên về tố tụng và nội dung việc dân sự là phù hợp nên chấp nhận. [3] Vấn đề áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú ông Tuấn không yêu cầu, nên không xét. [4] Về chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do ông Nguyễn Văn Tuấn chịu. [5] Về lệ phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn Tuấn phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 367, 369, 370, 381 và Điều 383 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 64 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên bố: 1. Chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của ông Nguyễn Văn Tuấn. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Trần Quốc Cẩm, sinh năm 1979 và bà Đỗ Thị Ngọc Chung, sinh năm 1982; Nơi cư trú cuối cùng: Ấp 3, xã Tân Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. 2. Về lệ phí: Ông Nguyễn Văn Tuấn phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sung vào công quỹ Nhà nước. Khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự ông

Tuấn đã nộp theo biên lai thu số 0003775 ngày 08/4/2019 tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa sang thi hành lệ phí. Ông Nguyễn Văn Tuấn đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự. 3. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. 4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ