- Tranh chấp gì? "Lê Văn D"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với công dân Lê Văn D, sinh ngày: 20/11/1977, HKTT: Xóm Tân Thịnh, xã T, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN T.X PHỔ YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/QĐ-TA | Phổ Yên, ngày 29 tháng 01 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có: 1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Kim Ngọc. 2. Thư ký phiên họp: Bà Tạ Thị Dung.
Ngày 29 tháng 01 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên,
tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 02/QĐ-TA, ngày 19 tháng 01 năm 2018 đối với: Họ và tên: Lê Văn D Sinh ngày: 20/11/1977 Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/12. Nơi cư trú: Xóm T, xã T, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do Tiền án: Không. Tiền sự: 01. Tại Quyết định số 04/QĐ–UBND ngày 01/7/2017 của UBND xã T đã quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường đối với công dân Lê Văn D, với thời hạn 03 tháng. Con ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị N. (Vắng mặt tại phiên họp). Có sự tham gia của: 1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Ngô Ngọc Tâm - Chức vụ: Phó trưởng phòng Phòng Lao động, TB&XH thị xã Phổ Yên. 2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên: Ông Dương Văn Thuận - Kiểm sát viên. 3. Đại diện cơ quan lập hồ sơ: Ông Nguyễn Văn Hùng - Trưởng công an xã T.
NHẬN THẤY:
Ngày 22/11/2017 tại Công an xã T, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên,
Công an xã đã lập biên bản về hành vi sử dụng chất ma túy trái phép đối với Lê Văn D.
Tại bản tường trình và biên bản lấy lời khai công dân Lê Văn D xác định: Do bạn bè rủ rê nên đã sử dụng ma túy từ tháng 01/2016, sử dụng bằng hình thức hít. Ngày 25/3/2017 Chủ tịch UBND xã T ra Quyết định số 04/QĐ-UBND về Quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình trong thời hạn 06 tháng đối với Lê Văn D. Ngày 01/7/2017 Chủ tịch UBND xã T ra Quyết định số 04/QĐ-UBND quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường với thời hạn 03 tháng. Ngày 25/9/2017, D đã được cấp Giấy chứng nhận số 03/GCN-UBND đã chấp hành xong thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và ngày 01/10/2017 được cấp Giấy chứng nhận số 04/GCN-UBND đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã, phường. Tuy nhiên, do không quyết tâm nên bản thân D lại tái nghiện. D xác định lần gần đây nhất sử dụng ma túy là ngày 20/12/2017.
Ý kiến của Đại diện Phòng Lao động, TB&XH thị xã Phổ Yên:
Công dân Lê Văn D nghiện ma tuý từ đầu năm 2016, đã được Chính quyền địa phương cho cai nghiện tự nguyện tại gia đình và giáo dục tại cấp xã nhưng vẫn tái nghiện. D sử dụng ma túy bằng hình thức hít, mỗi ngày sử dụng 02 lần, mỗi lần sử dụng hết 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Do nghiện ma tuý nên D thường tự đi mua về để sử dụng, chính quyền xã T và gia đình D đã trực tiếp quản lý, giáo dục nhiều lần song không có kết quả, cụ thể: Ngày 25/3/2017 Chủ tịch UBND xã T ra Quyết định số 04/QĐ-UBND về Quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình trong thời hạn 06 tháng đối với Lê Văn D. Ngày 01/7/2017 Chủ tịch UBND xã T ra Quyết định số 04/QĐ-UBND quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường với thời hạn 03 tháng. Ngày 25/9/2017, D đã được cấp Giấy chứng nhận số 03/GCN-UBND đã chấp hành xong thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và ngày 01/10/2017 được cấp Giấy chứng nhận số 04/GCN-UBND đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã, phường. Tuy nhiên, do không quyết tâm cai nghiện, ngày 20/11/2017 D lại tiếp tục sử dụng ma túy. Ngày 22/11/2017 Công an xã T kết hợp với Trạm y tế xã T, thuộc Trung tâm y tế thị xã Phổ Yên kiểm tra định kỳ tình trạng nghiện ma túy, Test nhanh bằng xét nghiệm nước tiểu, kết quả D có nghiện ma túy (Dương tính với Hêrôin).
Việc đưa công dân Lê Văn D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết cho
gia đình và xã hội cũng như toàn thể cộng đồng, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy đại diện Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại Công văn số: 05/CV-LĐTBXH ngày 16/01/2018 đưa Lê Văn D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên, địa chỉ: Tổ 18, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, thời hạn từ 12 - 15 tháng.
Ý kiến của đại diện UBND xã T: Nhất trí với đề nghị của Phòng Lao động
TB&XH thị xã Phổ Yên. Lê Văn D là đối tượng nghiện ma túy, thường xuyên trộm cắp vặt, luôn gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Việc đưa D đi cai nghiện bắt buộc là cần thiết, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn D từ 12 - 15 tháng.
Ý kiến của Đại diện VKSND thị xã Phổ Yên:
Các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền trong việc thiết lập hồ sơ đưa
công dân Lê Văn D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đảm bảo chặt chẽ, đúng thời gian, trình tự và tính pháp lý theo quy định của pháp luật. Việc thiết lập hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động, TB&XH thị xã Phổ Yên về việc đưa công dân D vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên, thời hạn từ 12 - 15 tháng là đúng quy định, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi vi phạm pháp luật của Lê Văn D.
Việc chấp hành pháp luật của Toà án kể từ khi thụ lý hồ sơ giải quyết đến
khi mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là đảm bảo đúng luật, đúng thời gian cũng như thành phần tham gia phiên họp và trình tự tố tụng theo hướng dẫn tại Pháp lệnh trình tự xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án.
XÉT THẤY:
Qua xem xét hồ sơ đề nghị Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn D:
Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính
năm 2012; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn D thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên.
Về thời hiệu: Ngày 25/3/2017 Chủ tịch UBND xã T ra Quyết định số 04/QĐ-UBND về Quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình trong thời hạn 06 tháng đối với Lê Văn D. Ngày 01/7/2017 Chủ tịch UBND xã T ra Quyết định số 04/QĐ-UBND UBND xã T đã quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường với thời hạn 03 tháng theo Quyết định số 04/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND xã T. Ngày 25/9/2017, D đã được cấp Giấy chứng nhận số 03/GCN-UBND đã chấp hành xong thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và ngày 01/10/2017 được cấp Giấy chứng nhận số 04/GCN-UBND đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã, phường. Tuy nhiên, do không quyết tâm cai nghiện, ngày 20/11/2017 D lại tiếp tục sử dụng ma túy. Ngày 22/11/2017, khi được Công an xã T yêu cầu đến cơ sở y tế xã T kiểm tra tình trạng nghiện ma túy thì có kết quả D có nghiện ma túy (Dương tính với Hêrôin), Công an xã T đã có Biên bản vi phạm hành chính về việc Lê Văn D sử dụng ma túy trái phép; Lê Văn D có nơi cư trú rõ ràng, do vậy đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động TB&XH thị xã Phổ Yên đối với Lê Văn D đảm bảo về thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 4 Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa
công dân Lê Văn D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do phòng Lao động, Thương binh & Xã hội thị xã Phổ Yên thiết lập, phòng Tư pháp thị xã Phổ Yên kiểm tra tính pháp lý đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Pháp lệnh trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân số 09/2014/UBTVQH13 và Nghị định số 221/2013/NĐ–CP ngày 30/12/2013; Mục 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ – CP ngày 09/9/2016 hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ–CP ngày 30/12/2013 quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Hành vi vi phạm của Lê Văn D đã làm ảnh hưởng đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương, mặt khác còn làm giảm sút đến chính sức khoẻ của bản thân công dân D, gây ra nhiều hệ lụy xấu cho cộng đồng. Do đua đòi bạn bè nên D mắc nghiện ma tuý từ đầu năm 2016 đến nay, hình thức sử dụng ma túy là hít, mặc dù đã được UBND xã T quyết định cho D được giáo dục tại cấp xã song D vẫn không sửa chữa, không từ bỏ được ma tuý.
Xét thấy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc đối với công dân Lê Văn D một thời gian nhất định. Đề nghị của phòng Lao động, Thương binh & Xã hội thị xã Phổ Yên là phù hợp, nhằm tạo điều kiện cho D được chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, lao động và học tập văn hoá, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, giúp D có điều kiện tái hoà nhập cộng đồng, xây dựng cuộc sống lành mạnh.
Công dân Lê Văn D không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; Được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính là tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Ý kiến của đại diện các cơ quan: Phòng Lao động, Thương binh & xã hội
thị xã Phổ Yên, UBND xã T và đại diện VKSND thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên về việc đưa công dân Lê Văn D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại phiên họp là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật và cần thiết trong việc giáo dục, cảm hoá D trở thành công dân có ích cho cộng đồng, đảm bảo giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn xã T nói riêng và toàn thị xã Phổ Yên nói chung.
Từ những nhận định trên: Áp dụng khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95; 96; 103, 104 và Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điểm h khoản 2 Điều 20, 22, 23 và Điều 24 Pháp lệnh số 09/2014/UBNTVQH13 về Trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; Mục 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ–CP ngày 09/9/2016 hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ–CP ngày 30/12/2013 quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với công dân Lê Văn D, sinh ngày: 20/11/1977, HKTT: Xóm Tân Thịnh, xã T, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án hoặc Quyết định được niêm yết;
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có
quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động, Thương binh & Xã hội thị xã Phổ Yên phối hợp với
Công an thị xã Phổ Yên đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cơ sở Tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên, tiếp nhận người phải chấp hành Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Phổ Yên; - CA thị xã Phổ Yên; - Phòng Lao động, TB&XH thị xã Phổ Yên; - Cơ sở Tư vấn và điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên; - UBND, CA xã T; - Công dân bị đề nghị; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN Nguyễn Kim Ngọc |