- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
- Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 02/QĐ-TA | Đ, ngày 12 tháng 01 năm 2018. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kiều Nga.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Phát Huy.
Ngày 12 tháng 01 năm 2018, tại Cơ sở Điều trị Cai Nghiện Ma Túy tỉnh
An Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 05/QĐ-
TA ngày 05 tháng 01 năm 2018 đối với:
Đỗ Hoàng T, sinh năm 1995; Giới tính: Nam;
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: tổ 7, khóm V, phường N, thành phố
Đ, tỉnh An Giang;
Nghề nghiệp: Bán nhang;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Đạo phật;
Trình độ văn hóa: 10/12
Chỗ ở hiện nay: Tổ 7, khóm V, phường N, thành phố Đ, tỉnh An Giang:
Tiền án, tiền sự: Không xác định.
Con ông Đỗ Hoàng H và bà Trần Thị P.
Đỗ Hoàng T có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ Phòng Lao
động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ, tỉnh An Giang đại diện theo ủy
quyền; có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh An Giang tham gia
phiên họp: Ông Nguyễn Văn Thành – Kiểm sát viên; có mặt.
NHẬN THẤY:
Ngày 21/9/2017, Đỗ Hoàng T bị Công an phường N mời làm việc về hành vi
sử dụng trái phép chất ma túy và đưa Đồng đi xét nghiệm ma túy với kết quả dương tính. Đồng thời, Công an phường N lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T.
Đến ngày 06/10/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N ban hành Quyết
định số 159/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với T với thời gian giáo dục 03 tháng, từ ngày 06/10/2017 đến ngày 06/01/2018.
Ngày 08/12/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N ban hành Quyết định
số 504/QĐ-UBND về việc chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với T do trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại phường T vẫn tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 06/12/2017, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N ban hành Quyết
định số 496/QĐ-UBND về việc giao cho Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
Ngày 11/12/2017, Ủy ban nhân dân phường N ban hành Đề nghị số 46/ĐN-
UBND đề nghị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Đ xem xét việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T với thời gian 24 tháng nhằm giúp đỡ T có điều kiện cai nghiện, học nghề để trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.
Theo Thông báo số 129/TB - PTP ngày 20/12/2017, Phòng Tư pháp
thành phố Đ đã kết luận, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T bảo đảm về tính pháp lý.
Ngày 25/12/2017, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Đ
ban hành văn bản số 119/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đồng với thời hạn tập trung từ 15 đến 24 tháng.
Tại phiên họp:
- Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố
Đ: Giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Hoàng T với thời gian tập trung cai nghiện từ 15 đến 24 tháng.
- Ý kiến của Đỗ Hoàng T: Xác định có sử dụng ma túy như hồ sơ thể
hiện, chấp nhận đề nghị của Cơ quan đề nghị và xin áp dụng thời gian cai nghiện thấp.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: T có hành vi sử dụng trái
phép chất ma túy, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường theo Quyết định số 159/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối với T với thời gian giáo dục 03 tháng, từ ngày 06/10/2017 đến ngày 06/01/2018. Trong thời gian
chấp hành biện pháp giáo dục T lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy
nên ngày 08/12/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N ban hành Quyết định số
504/QĐ-UBND về việc chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường đối
với T.
Vì vậy, việc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ ban
hành văn bản số 119/LĐTBXH ngày 25/12/2017 đề nghị Tòa án đưa T vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi
phạm hành chính năm 2012.
Đề nghị Toà án nhân dân thành phố Đ chấp nhận đề nghị của Phòng Lao
động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
XÉT THẤY:
* Về tố tụng:
Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ
đúng quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
* Về nội dung:
Tại phiên họp, người bị đề nghị thừa nhận, vào ngày 21/9/2017, T có sử
dụng ma túy và bị Công an phường N đưa T đi xét nghiệm, kết quả dương tính với
chất ma túy và lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. T bị Chủ tịch
Ủy ban nhân dân phường N áp dụng biện pháp giáo dục tại phường. Đến ngày
06/12/2017, T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Vào ngày 06/12/2017, T bị
Công an phường N đưa đi xét nghiệm với kết quả dương tính với chất ma túy. Đồng
thời, Công an phường N lập biên bản vi phạm đối với T.
Lời khai nhận của T tại phiên họp phù hợp với các kết quả xét nghiệm của
cơ quan chuyên môn, lời khai của T tại các bản tường trình ngày 21/9/2017 và
ngày 06/12/2017, biên bản ghi lời khai, biên bản vi phạm hành chính do Công
an phường N lập và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đề nghị.
Xét Đỗ Hoàng T đã thành niên, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy
và đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường mà vẫn còn vi phạm. Vì vậy,
việc Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ đề nghị đưa
T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật
xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận.
Về tình tiết giảm nhẹ, T có thái độ thành khẩn khai báo là tình tiết giảm
nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Cho nên, cần
xét giảm nhẹ cho Đồng khi quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý
hành chính.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104,
Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
với Đỗ Hoàng T, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ 7, khóm V, phường N, thành phố Đ, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ 7, khóm V, phường N, thành phố Đ, tỉnh
An Giang.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 tháng, kể từ
ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 06 tháng 12 năm 2017).
3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành
phố Đ và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
Thời hạn khiếu nại của Đỗ Hoàng T là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa
án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố Đ chủ trì
phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố Đ đưa Đỗ Hoàng T vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Phòng LĐ, TB, XH TP. Đ; - Ủy ban nhân dân phường N; - Công an nhân dân phường N; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy - TAG; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố; - Đội CSĐTTPMT-CAND TP. Đ; - Công an nhân dân TP. Đ; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Kiều Nga |