- Tranh chấp gì? "Giải quyết khiếu nại, kiến nghị Quyết định ADBPXLHC Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Căn cứ chính? Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/QĐ-TA | Hậu Giang, ngày 20 tháng 3 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Bích Hạnh
2. Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Ngày 20 tháng 3 năm 2020, tại Cơ sở cai nghiện ma tuý thành phố Cần Thơ tiến hành phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại của Huỳnh Văn T đối với Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 04/QĐ-TA ngày 03/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang, đối với:
Người bị đề nghị: Huỳnh Văn T, giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Không.
Sinh năm: 1989.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 06/12.
Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp.
Nguyên quán: Huyện P, Hậu Giang.
Hộ khẩu thường trú: Ấp 8, xã A, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.
Tiền án: 03.
Tiền sự: Không.
Con ông Huỳnh Văn V và bà Trương Thị H.
(Có mặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Thị Ngọc T – Chức vụ: Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện P
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn C – Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện P
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên họp: Bà Dương Thanh Giềng – Kiểm sát viên.
Người khiếu nại: Huỳnh Văn T.
NHẬN THẤY:
Ngày 04/02/2020 Huỳnh Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an xã A phát hiện. Vào ngày 04/02/2020, qua tiến hành thử test nhanh đối với Huỳnh Văn T cho kết quả dương tính với chất ma túy tổng hợp loại Methamphetamine, theo kết quả xét nghiệm của Trạm y tế xã A kết luận.
Sau hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Huỳnh Văn T bị phát hiện, Huỳnh Văn T không có nơi cư trú ổn định nên Công an xã A tiến hành lập hồ sơ và chuyển cơ quan có thẩm quyền đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Trên cơ sở đó, ngày 04/02/2020, Ủy ban nhân dân xã A đã ra quyết định lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và thông báo cho Huỳnh Văn T biết việc lập hồ sơ.
Ngày 17/02/2020, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện P ban hành Đề nghị số 68/ĐN-LĐTBXH với nội dung đề nghị Tòa án nhân dân huyện P xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Huỳnh Văn T với thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng.
Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 04/QĐ-TA ngày 03/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang, quyết định: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ.
Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng (Hai mươi bốn tháng), kể từ ngày Huỳnh Văn T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngoài ra, quyết định còn tuyên về quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/3/2020, Huỳnh Văn T có đơn khiếu nại, yêu cầu Toà án giảm thời gian chấp hành đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và cho ông cơ hội cho gia đình bảo lãnh về cai nghiện tại địa phương.
Tại phiên họp, Huỳnh Văn T xin được giảm thời gian chấp hành đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và cho ông cơ hội để gia đình bảo lãnh ông về cai nghiện tại địa phương.
Đại diện phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện P: Đề nghị Tòa án giữ nguyên quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện P đối với Huỳnh Văn T, vì ông T thường xuyên không có mặt tại địa phương nên địa phương không quản lý được.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Tòa án đã thực hiện đúng thủ tục giải quyết khiếu nại, trình tự tiến hành phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại theo quy định của Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang áp dụng khoản 1 Điều 35 của Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, không chấp nhận khiếu nại của ông Huỳnh Văn T, giữ nguyên Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 04/QĐ-TA ngày 03/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ, thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng.
XÉT THẤY:
Về trình tự thủ tục: Sau phiên họp xem xét, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang, ngày 04/02/2020 Huỳnh Văn T có đơn khiếu nại yêu cầu giảm thời gian chấp hành đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và được cai nghiện tại địa phương. Xét khiếu nại của Huỳnh Văn T đã làm và nộp đơn khiếu nại theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 31 và khoản 2 Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về nội dung giải quyết khiếu nại: Trong quá trình giải quyết vụ việc, tại bản tường trình và các Biên bản ghi lời khai ông T thừa nhận có sử dụng ma túy đá với hình thức hút bắt đầu từ năm 2019, lần sử dụng ma túy gần đây nhất là vào ngày 03/02/2020. Theo lời khai của ông T trong hồ sơ vụ án thì ông không có nơi cư trú ổn định, cũng không có việc làm cố định. Tòa án cũng đã tiến hành xác minh nơi cư trú của Huỳnh Văn T (tại bút lục 15) địa phương xác nhận ông T có đăng ký thường trú tại ấp 8, xã A, huyện P, tỉnh Hậu Giang nhưng thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì thì địa phương không nắm rõ. Đồng thời, tại Biên bản ghi lời khai của bà Trương Thị H là mẹ ruột của ông T thì bà cũng xác nhận ông T thường xuyên không có mặt tại địa phương, ông T đi đâu, làm gì thì gia đình cũng không biết và đề nghị cơ quan có thẩm quyền đưa ông T vào cơ sở cai nghiện ma túy.
Căn cứ khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, quy định đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là “người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định…” và khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa và cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng có quy định về đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau: “người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định…”. Nên việc Phòng lao động thương binh và xã hội huyện P đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T là đúng pháp luật.
Tại phiên họp, ông T có đơn khiếu nại xin được xem xét về thời hạn chấp hành là 24 tháng như Tòa án nhân dân huyện P đã tuyên. Tuy nhiên, xét thấy ông T sử dụng liên tục chất ma túy từ năm 2019 đến nay, bản thân ông cũng có 03 tiền án, là đối tượng gây rối ở địa phương, ông T cũng không có nghề nghiệp gì, không tích cực lao động sản xuất để nuôi sống bản thân và gia đình, thường xuyên vắng mặt tại địa phương nên cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để có thời gian rèn luyện, thử thách. Nếu sau khi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ông T có tiến bộ rõ ràng về việc chấp hành nội quy, quy chế tại cơ sở và tích cực học tập, lao động và có các thành tích xuất sắc khác sẽ được xem xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở cai nghiện theo quy định của pháp luật. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận khiếu nại của ông T về việc yêu cầu xem xét lại thời hạn chấp hành 24 tháng và yêu cầu được cai nghiện tại địa phương.
Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang là có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ khoản 1 Điều 35 của Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 111, Điều 112 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Khoản 1 Điều 35 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án năm 2014;
Nghị định số 136/2016/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Điều 18 và Điều 19 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;
Không chấp nhận khiếu nại của Huỳnh Văn T.
Giữ nguyên Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 04/QĐ-TA ngày 03/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng (Hai mươi bốn tháng), kể từ ngày người bị áp dụng là Huỳnh Văn T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Quyết định giải quyết khiếu nại này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành ngay.
Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện P, tỉnh Hậu Giang và Công an huyện P, tỉnh Hậu Giang có trách nhiệm phối hợp thi hành quyết định này. Nơi Nhận:
| - VKSND tỉnh Hậu Giang; - TAND huyện P; - Ông Huỳnh Văn T; - Công an huyện P; - Phòng LĐTB&XH huyện P; - Cơ sở cai nghiện ma túy TP. Cần Thơ; - UBND xã A, huyện P; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trịnh Thị Bích Hạnh |