- Tranh chấp gì? "Lê Quốc T1"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lê Quốc T1, Tên gọi khác: Không có; sinh năm 2005iềnHiHuyee tại tỉnh Vĩnh Long; Căn cước công dân: 083205008075; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; nơi cư trú: …
- Căn cứ chính? Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/QĐ-TA | Vĩnh Long, ngày 11 tháng 7 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có: Thẩm phán: Ông Ngô Văn T Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Vương
Ngày 11 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 02/QĐ-TA ngày 04 tháng 7 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Lê Quốc T1, T2 gọi khác: Không có;
Sinh năm 2005 tại tỉnh Vĩnh Long;
Căn cước công dân: 083205008075;
Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không;
Trình độ văn hóa: 12/12; nơi cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long;
Con ông Lê Văn Đ và bà Lê Thị Kim D.
Nhân thân: Đã nêu tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 22/QĐ-TA ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là TAND Khu vực 5-Vĩnh Long).
Anh Lê Quốc T1 vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
- Người đề nghị: Trưởng Công an xã T, tỉnh Vĩnh Long – Ông Phạm Văn N.
Đại diện theo ủy quyền của Trưởng Công an xã T, tỉnh Vĩnh Long: Ông Nguyễn Văn C – Cán bộ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long: Ông Phan Thanh Việt - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc, hành vi vi phạm của anh Lê Quốc T1 được tóm tắt như sau:
Anh T1 là người nghiện ma túy, đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 22/QĐ-TA ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là TAND Khu vực 5-Vĩnh Long). Đến ngày 20/01/2025, anh Tam chấp H xong việc cai nghiện ma túy và bị áp dụng biện pháp Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 107/QĐ-UBND ngày 22/01/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) kể từ ngày 22/01/2025 đến ngày 22/01/2027.
Ngày 27/6/2025, Công an xã T tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với anh T1 thì anh T1 dương tính với ma túy. Anh T1 thừa nhận ngày 24/6/2025 anh T1 có sử dụng ma túy nên Công an xã T lập Biên bản vi phạm hành chính số 14/BB-VPHC ngày 20/6/2025 đối với anh T1. Theo phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng ma túy ngày 24/6/2025 của Trạm Y tế xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) thì anh Tam nghiện ma túy loại ma túy tổng hợp nên Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 316/BB-VPHC ngày 27/6/2025 và Công an xã T tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh T1.
Tại phiên họp:
Người đề nghị có ý kiến: Anh T1 là người đã từng nghiện ma túy, đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và hiện đang bị áp dụng biện pháp Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú nhưng lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên việc cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T1 với thời hạn là 15 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Công an tỉnh V.
Kiểm sát viên tham gia phiên họp xác định: Quá trình thụ lý hồ sơ và tại phiên họp, những người tiến hành phiên họp đã tuân thủ và thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo luật định. Hồ sơ đã được lập đúng theo trình tự, thủ tục theo luật định, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T1 theo đề nghị của người đề nghị với thời hạn 15 tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ và ý kiến của những người tham gia phiên họp,
XÉT THẤY:
Tại phiên họp, anh T1 đã được Tòa án triệu tập đúng quy định nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên căn cứ vào khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Điều 1 Nghị Quyết số 04 ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt đối với anh T1 là phù hợp.
Anh T1 đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú nhưng lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 316/BB-VPHC ngày 27/6/2025 và Công an xã T tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh T1 là phù hợp.
Anh T1 là người trên 18 tuổi, đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú nhưng lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 và khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Do đó, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T1 đã được các cơ quan có thẩm quyền lập đúng và đầy đủ theo trình tự pháp luật quy định và đề nghị của Trưởng Công an xã T, tỉnh Vĩnh Long là có cơ sở.
Anh T1 biết rõ chất ma túy là chất độc hại, việc sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của anh T1 đã xâm phạm đến chủ trương chính sách của Nhà nước về bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó, việc bắt buộc cai nghiện đối với anh T1 là cần thiết.
Xét nhân thân và mức độ nghiện của anh T1 thấy rằng: ngày 07/5/2024 anh T1 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 12 tháng, sau khi hoàn thành xong việc cai nghiện thì anh T1 lại tiếp tục tái nghiện chứng tỏ mức độ nghiện của anh T1 là nghiệm trọng nên cần đưa anh T1 đi cai nghiện với mức thời hạn dài hơn lần cai nghiện trước mới đủ giúp anh T1 chấm dứt việc nghiện ma túy. Do đó, mức thời gian cai nghiện mà Trưởng Công an xã T, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lê Quốc T1, Tên gọi khác: Không có; sinh năm 2005iềnHiHuyee tại tỉnh Vĩnh Long; Căn cước công dân: 083205008075; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; nơi cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long; Con ông Lê Văn Đ và bà Lê Thị Kim D.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Anh Lê Quốc T1 được quyền khiếu nại được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày được tống đạt Quyết định; Trưởng Công an xã T, tỉnh Vĩnh Long được quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long được quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an xã T, tỉnh Vĩnh Long và Cơ sở cai nghiện ma túy – Công an tỉnh V có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - TA tỉnh Vĩnh Long (1b); - VKSND Khu vực 5-Vĩnh Long (1b); - Trưởng Công an xã Tân Phú (1b); - Cơ sở CNMT Công an T. Vĩnh Long (1b); - Người bị áp dụng (1b); - Lưu VP, hồ sơ (2b). | THẨM PHÁN Ngô Văn Trình |