vanban.org

Quyết định 02/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn S; sinh năm 1991 (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B, địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện T, tỉnh B).

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đối tượng Dương Văn S, Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền khiếu nạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn S; sinh năm 1991 (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B, địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện T, tỉnh B).
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 30 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/QĐ-TATân Yên, ngày 30 tháng 01 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN - BẮC GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: ông Nguyễn Ánh Dương

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Duyên

Ngày 30/01/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh B tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 02/QĐ - TA ngày 24/1/2018 đối với:

Anh Dương Văn S, Giới tính: Nam

Sinh ngày 24/9/1991

CMND số: 122157018 ngày cấp 13/10/2011, nơi cấp: CA tỉnh B.

Dân tộc: kinh

Tôn giáo: không

Trình độ văn hóa: 5/12

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn L, xã P, huyện T, tỉnh B.

Đã chấp hành xong Quyết định số: 43/QĐ – UBND ngày 23/5/2017 của Chủ tịch UBND xã P về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã kể từ ngày 23/8/2017.

Tiền án: Không; Tiền sự : Không.

Con ông Dương Văn N và bà Hoàng Thị L

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn H– Phó Trưởng phòng Lao động

- Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh B

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh B.Ông Giáp Văn H - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại bản tường trình ngày 21/12/2017 và các lời khai tiếp theo Dương Văn S khai , Sơn bị UBND xã P ra Quyết định số 43/QĐ – UBND ngày 23/5/2017 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã P về việc sử dụng ma túy với thời gian 03 tháng, kể từ ngày 23/5/2017. Sau khi chấp hành xong thời hạn 03 tháng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và được cấp giấy chứng nhận số 35/GCN-UBND ngày 23/8/2017 chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã P thì đến ngày 18/12/2017 Sơn lại bị Công an xã P lập biên bản xét nghiệm chất ma túy. Ngày 21/12/2017 bị lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Quá trình làm việc và tại phiên họp hôm nay S khai nhận sử dụng ma túy Hê rô in từ đầu năm 2017 đến năm 2018 và ngày 18/12/2017 bị Công an xã P lập biên bản về sử dụng ma túy Hê rô in.

Tại phiên họp hôm nay, Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T đề nghị: Giữ nguyên quan điểm áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn S với thời gian là 24 tháng, do S không tự cai nghiện ma túy.

Tại phiên họp hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T có ý kiến: Quá trình thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị chấp nhận quan điểm về việc đưa Dương Văn S vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 tháng do S nghiện ma túy và không tự cai nghiện được.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của cơ quan đề nghị, đại diện viện kiểm sát, người bị đề nghị.

XÉT THẤY:

* Về thẩm quyền xem xét, quyết định: Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh B lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn S do nghiện ma túy, không tự cai nghiện. Nên TAND huyện T thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.

* Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đối với Dương Văn S lập ngày 18/12/2017 do S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 22/01/2018 TAND huyện T thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

* Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thấy: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện đối với Dương Văn S đã đầy đủ các tài liệu, phù hợp với Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

* Xét đề nghị của Trưởng phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T thấy: Dương Văn S là người đã thành niên, biết tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng, S đã bị UBND xã P áp dụng biện pháp giáo dục tại xã P số: 43/QĐ – UBND ngày 23/5/2017 thời hạn là 03 tháng. Hết thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương, Dương Văn S vẫn tiếp tục sử dụng chất ma tuý. Tại phiếu trả lời kết quả 21/12/2017 Trạm y tế xã P xác định S có nghiện ma túy (loại ma túy Hê rô in). Chứng tỏ Dương Văn S là người khó có thể cai nghiện tại cộng đồng. Việc sử dụng ma túy của S là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Dương Văn S đã vi phạm: khoản 3 Điều 3 Luật phòng, chống ma túy; Khoản 1 khoản 16 Điều 2; Khoản 1 Điều 96; Điểm a khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Để Dương Văn S cai nghiện được ma túy và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đối tượng đồng ý đi cai nghiện bắt buộc. Cần chấp nhận đề nghị của phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh B và đại diện Viện kiểm sát, đưa Dương Văn S đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B với thời hạn là 24 tháng là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc và tại phiên họp hôm nay Sơn đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét về tình tiết tăng nặng: Đối tượng Dương Văn S đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và đã được cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định trên. Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 – Luật xử lý vi phạm hành chính, thì thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính là: “…trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính…mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính…”. Chưa hết thời hạn 02 năm đối tượng Dương Văn S lại vi phạm do vậy đối tượng phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” qui định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ vào Điều 95; Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn S; sinh năm 1991 (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B, địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện T, tỉnh B).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Đối tượng Dương Văn S, Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện T, tỉnh B.

Cỡ chữ