vanban.org

Quyết định 02/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn H.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo có quyền kháng nghị, Ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn H.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM ĐẢO
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/QĐ-TATam Đảo, ngày 19 tháng 3 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Mầu Văn Mùi

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hải Yến

Ngày 19 tháng 3 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 02/QĐ-TA ngày 13 tháng 3 năm 2018 đối với:

Họ và tên: Lưu Văn H, sinh năm 1991 giới tính: Nam; căn cước công dân số: 026091002539; Ngày cấp: 09 tháng 02 năm 2017; nơi cấp: Cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư; dân tộc: Sán dìu; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 8/12; nguyên quán: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; tiền án, tiền sự: không; con ông Lưu Văn L và bà Diệp Thị V (Vắng mặt).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Trang Nhung, Cán bộ phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện Tam Đảo (theo Công văn cử đại diện tham dự phiên họp số 21/LĐTBXH ngày 15 tháng 3 năm 2018 của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Tam Đảo).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo: Ông Hoàng Văn La, Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Lưu Văn H là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2017. Tại Quyết định số 35/QĐ-UBND ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Lưu Văn H thời hạn 03 (Ba) tháng. Sau khi chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã nhưng Lưu Văn H vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 02 tháng 01 năm 2018, Đoàn liên ngành huyện T phối hợp với Tổ công tác cai nghiện ma túy của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T đã tiến hành đưa đối tượng đi xét nghiệm nước tiểu. Thông qua kết quả xét nghiệm, Lưu Văn H dương tính với chất ma túy. Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T đã lập hồ sơ đề nghị đưa đối tượng Lưu Văn H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tại biên bản ghi lời khai, bản kiểm điểm, Lưu Văn H thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bản thân dương tính chất ma túy. Với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và bản thân dương tính với chất ma túy của H, đại diện Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Tam Đảo đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn H thời hạn là 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã đảm bảo đầy đủ trình tự, thủ tục và đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên thấy rằng:

Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và quy định tại Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ.

Xét nhân thân, mức độ nhận thức cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của đối tượng: Lưu Văn H đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã Đ, huyện T do nghiện ma túy; sau khi chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện T mặc dù đã được cảm hóa, giáo dục, nâng cao nhận thức nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý, bản thân dương tính với chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lưu Văn H đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc sử dụng các chất ma tuý, góp phần làm tệ nạn ma tuý gia tăng, gây hiểm họa cho toàn xã hội nói chung và gây tác hại cho sức khoẻ, tài sản của đối tượng và gia đình nói riêng.

Hành vi của Lưu Văn H đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn H theo đề nghị của Phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện Tam Đảo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Văn H.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo có quyền kháng nghị, Phòng lao động thương binh và xã hội huyện Tam Đảo có quyền kiến nghị. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại Quyết định này trong hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc niêm yết quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T và Công an huyện T có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ