- Tranh chấp gì? "Phan Linh T"
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
| TÒA ÁN NHÂN DÂN H N M T T NH S C T N ------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/QĐ-TA | M T , ngày 10 tháng 10 năm 2017 |
Q ẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN H N M T , T NH S C T N
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguy n Hoàng Lâm.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguy n Thị Bé.
Ngày 10 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M Tú, tỉnh Sóc Trăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số 02/QĐ-TA ngày 04 tháng 10 năm 2017 đối với:
- Họ và tên: Phan Linh T; Giới tính: Nam;
- Sinh năm 1994;
- CMND số: 365xxxxxx; Ngày cấp: 25/5/2009; Nơi cấp: Công an tỉnh Sóc Trăng;
- Dân tộc: Kinh;
- Tôn giáo: Không;
- Trình độ văn hóa: 09/12;
- Nguyên quán: xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng;
- Hộ khẩu thường trú: ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng;
- Chỗ ở: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng;
- Nghề nghiệp: Không;
- Tiền án: Không;
- Tiền sự:
+ Vào ngày 30/12/2016, bị Đội trưởng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 750.000 đồng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
+ Vào ngày 20/3/2017, bị Đội trưởng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 1.000.000 đồng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
+ Vào ngày 22/6/2017, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn là 04 tháng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Con ông: Phan Thủy T và bà: Hà Thị Bích V;
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông han Văn Đư ng - Phó trưởng phòng Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M T , tỉnh Sóc Trăng: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤ :
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Phan Linh T có hành vi vi phạm như sau:
Lần 1: Vào ngày 26/12/2016, T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng mời làm việc và xét nghiệm nước tiểu. Kết quả xét nghiệm cho thấy T dương tính với chất Methamphetamine. Ngày 30/12/2016, T bị Đội trưởng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế - ma túy Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0002187/QĐ-XPHC, với số tiền là 750.000 đồng (chưa nộp phạt);
Lần 2: Vào ngày 13/3/2017, T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng mời làm việc và xét nghiệm nước tiểu. Kết quả xét nghiệm cho thấy T dương tính với chất Methamphetamine. Ngày 20/3/2017, T bị Đội trưởng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế - ma túy Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0002810/QĐ-XPHC, với số tiền là 1.000.000 đồng (chưa nộp phạt);
Lần 3: Vào ngày 31/5/2017, T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng mời làm việc và xét nghiệm nước tiểu. Kết quả xét nghiệm cho thấy T cũng dương tính với chất Methamphetamine. Ngày 22/6/2017, T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện M ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 89/QĐ-UBND, với thời hạn là 04 tháng.
Lần 4: Vào ngày 08/9/2017, T lại có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng mời làm việc và xét nghiệm nước tiểu. Kết quả xét nghiệm cho thấy T dương tính với chất Methamphetamine.
Đến ngày 10/9/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện M lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
Tại phiên họp:
Đại diện Cơ quan đề nghị h ng Lao đ ng, Thương binh và h i huyện M có ý kiến: Đối tượng T đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền 02 lần, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã 01 lần, sau đó vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Vì vậy, đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T, với thời hạn là 18 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M T , tỉnh Sóc Trăng có ý kiến: Từ khi thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T cho đến nay, Tòa án đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý tại Tòa án nhân dân. Mặt khác, T đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, bị xử phạt hành chính, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, sau đó T vẫn còn nghiện và tiếp tục sử dụng ma túy. Theo quy định tại Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 3; Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 95; Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện M, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T, với thời hạn từ 18 tháng.
XÉT THẤ :
1. Tại phiên họp, người bị đề nghị là Phan Linh T vắng mặt, nhưng không có lý do chính đáng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
2. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phan Linh T:
- Các tài liệu, giấy tờ có trong hồ sơ đề nghị đầy đủ về số lượng, thành phần, phù hợp về thể thức và nội dung theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (gọi tắt là Nghị định số 221/2013/NĐ-CP).
- Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính là phù hợp với quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là Phan Linh T hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 5, Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP.
- Thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp với quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp với quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP.
3. Về đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện M, về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phan Linh T, Tòa án thấy rằng:
Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính có quy định:
“1. Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt bu c là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm quy định tại Điều 96 của Luật này để chữa bệnh, lao đ ng, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt bu c.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt bu c từ 12 tháng đến 24 tháng”.
Khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định như sau:
“Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt bu c là người nghiện ma t y từ đủ 18 tuổi trở lên đ bị áp dụng biện pháp giáo dục tại x , phường, thị trấn mà vẫn c n nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư tr ổn định”.
Như vậy, đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Phan Linh T là người đã thành niên, nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng T vẫn sử dụng nên hành vi vi phạm của T là rất nguy hiểm cho xã hội. T đã vi phạm và bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nay lại tiếp tục vi phạm là thuộc tình tiết tăng nặng “vi phạm hành chính nhiều lần, tái phạm” theo điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; T vi phạm khi đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, là thuộc tình tiết tăng nặng “vi phạm trong thời gian đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính” theo điểm h khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, T cũng có tình tiết giảm nhẹ, đó là sau khi vi phạm, T đã tự nguyện khai báo là thuộc tình tiết giảm nhẹ “người vi phạm hành chính đ tự nguyện khai báo” theo khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Đối chiếu hành vi vi phạm của T với các quy định nêu trên, cũng như xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của T khi vi phạm, Tòa án thấy cần thiết phải đưa T đi chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Do đó, Cơ quan quan đề nghị là Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện M và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M Tú đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T, với thời hạn từ 18 tháng là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
Q ẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phan Linh T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xem xét, giải quyết lại; trường hợp người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại tính kể từ ngày nhận được quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng và Phòng Lao động, Thương binh và xã hội huyện M, tỉnh Sóc Trăng. N nh n:
TH M HÁN
- Người bị áp dụng;
- Trưởng công an huyện M;
- Trưởng phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện M;
- UBND xã M, huyện M;
- VKSND huyện M Tú;
- Lưu hồ sơ.
Nguy n Hoàng Lâm