vanban.org

Quyết định 02/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Minh T, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Số H, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 09 (chín) tháng, kể từ ngày anh Lê Minh T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Minh T, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Số H, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  • Căn cứ chính? Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy; Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 1 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/QĐ-TAKế Sách, ngày 15 tháng 01 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi

vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Linh Đa

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thanh Trinh

Ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 01/2024/QĐ-MPH, ngày 08 tháng 01 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Lê Minh T; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 28 tháng 6 năm 2007;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn: Lớp 7/12;

Nguyên quán: xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng;

Địa chỉ thường trú: Số A, Ấp C, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng;

Chỗ ở hiện nay: Số A, Ấp C, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng;

Nghề nghiệp: Làm vườn;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Không;

Con ông Lê Minh T1, sinh năm 1977 và bà Trà Thị Tuyết T2, sinh năm 1987, cùng cư trú: Số A, Ấp C, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

(Anh Lê Minh T có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn K, chức vụ: Phó Trưởng phòng Lao động-Thương binh và xã hội huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng: Bà Lâm Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

3. Người đại diện hợp pháp của anh Lê Minh T:

- Ông Lê Minh T1, sinh năm 1977, cư trú: Số A, Ấp C, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bà Trà Thị Tuyết T2, sinh năm 1987, cư trú: Số A, Ấp C, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NHẬN THẤY :

Người bị đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Lê Minh T) có các hành vi vi phạm sau:

Vào ngày 15/8/2023, UBND xã T đã ra Quyết định số 117/QĐ-UBND ngày 15/8/2023 về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với Lê Minh T.

Ngày 24/12/2023, T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 25/12/2023, T bị Công an xã T mời thử test nhanh mẫu nước tiểu, kết quả dương tính với chất ma túy đá và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy của T. Ngày 25/12/2023, Trạm y tế xã T có phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện của Lê Minh T, T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine). UBND xã T lập Biên bản vi phạm cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và tiến hành lập hồ sơ theo quy định để đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại văn bản số 642/ĐN-CNBB ngày 28/12/2023, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K đã đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng; Tại phiên họp, Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K giữ ý kiến, đề nghị đưa anh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 09 tháng.

Tại phiên họp, người bị đề nghị là anh Lê Minh T cùng người đại diện hợp pháp là ông Lê Minh T1 và bà Trà Thị Tuyết T2 thấy được tình trạng nghiện ma túy của T và đồng ý cai nghiện theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhìn chung đều thực hiện đúng và đầy đủ theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; đồng thời đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Cơ quan đề nghị để quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Minh T thời gian 09 tháng.

XÉT THẤY :

Căn cứ vào biên bản vi phạm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và ý kiến của Cơ quan đề nghị, đã có đủ cơ sở để kết luận anh Lê Minh T là người bị đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 33 của Luật Phòng, chống ma túy và khoản 5 Điều 1 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Xét hồ sơ đề nghị đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Minh T của Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Trưởng phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện K, tỉnh Sóc Trăng có văn bản đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Minh T là còn thời hiệu, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 50, 51, 52 và 53 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Theo hồ sơ đề nghị, lời thừa nhận của anh Lê Minh T có trong hồ sơ cũng như tại phiên họp hôm nay, biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và kết quả tranh luận của những người tham gia phiên họp đã đủ căn cứ xác định anh Lê Minh T là đối tượng nghiện ma túy, vi phạm cai nghiện ma túy tự nguyện, có nơi cư trú ổn định. Do đó, việc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K đề nghị đưa anh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 33 của Luật Phòng, chống ma túy, được Tòa án chấp nhận; thời gian cai nghiện 09 tháng tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp, đúng pháp luật; anh T cùng người đại diện hợp pháp của T sau khi được giải thích và phân tích tại phiên họp cũng đã đồng ý cho T đi cai nghiện với thời hạn áp dụng này.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định trên và quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 33 của Luật Phòng, chống ma túy; các Điều 3, 20, 23, 24, 35, 36, 37 và Điều 38 của Pháp lệnh số 01/2022/ UBTVQH15, ngày 24/3/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; khoản 5 Điều 1, Điều 50, Điều 51, Điều 52 và Điều 53 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy,

QUYẾT ĐỊNH :

1. Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Minh T, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Số H, đường H, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 09 (chín) tháng, kể từ ngày anh Lê Minh T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

Anh Lê Minh T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định; Ông Lê Minh T1 và bà Trà Thị Tuyết T2 có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định.

Trưởng phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện Kế Sách có quyền kiến nghị và Viện Kiểm sát nhân dân huyện K có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K, tỉnh Sóc Trăng phối hợp với Công an huyện K, tỉnh Sóc Trăng thi hành quyết định này.

Cỡ chữ