- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê T, sinh năm 1977; hộ khẩu thường trú: thôn M, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Nam.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Luật Phòng, chống ma túy; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/QĐ-TA | H, ngày 14 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH QUẢNG NAM
Với thành phần phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán chủ trì phiên họp: ông Trần Anh Liêm;
2. Thư ký phiên họp: bà Nguyễn Thị Đào Lý.
Ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 02/QĐ-TA ngày 08 tháng 7 năm 2022, đối với:
Họ và tên: Lê T, sinh năm 1977; trú tại: thôn M, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: không; con ông Lê Ta và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ con; tiền án; không; tiền sự: năm 2021 bị Công an xã Q xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng, năm 2022 bị Công an xã Q xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; nhân thân: ngày 05/4/2016 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam: ông Lê Văn Công; chức vụ: chuyên viên.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam: bà Bùi Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Ngày 20/4/2022, Lê T đến khu vực gần Ủy ban nhân dân xã Quế Thọ, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam mua ma túy của một người không rõ họ, tên mang về nhà tại thôn M, xã Q sử dụng. Ngày 25/4/2022, Công an xã Q tiến hành thử nước tiểu, phát hiện Lê T dương tính với ma túy, loại Hêroin. Ngày 26/4/2022, Ủy ban nhân dân xã Q ban hành Quyết định số 230/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 10/6/2022, Công an xã Q ban hành đề nghị số 51/ĐN-CAX về việc xác định tình trạng nghiện của Lê T. Ngày 14/6/2022 Cơ sở cai nghiện ma túy Quảng Nam xác định Lê T dương tính với ma túy. Ngày 14/6/2022, Công an xã Q ban hành Thông báo số 55/TB-CAX về việc phải đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nhưng Lê T không đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Theo bản tự khai, giấy cam đoan Lê T khai nhận thấy hành vi sử dụng ma túy vào ngày 20/4/2022 là vi phạm pháp luật, cam đoan không tái phạm và chấp hành nghiêm chỉnh theo sự quản lý của Ủy ban nhân dân xã Q.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội huyện Hiệp Đức cho rằng: Vào ngày 14/6/2022, Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Nam xác định Lê T là người bị nghiện ma túy, trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày có kết quả xác định tình trạng nghiện, Lê T phải đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nhưng Lê T không thực hiện nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy năm 2021.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H cho rằng: Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê T có đủ căn cứ, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục và hợp pháp. Thẩm phán, Thư ký được phân công đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp. Do đó, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê T.
Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia phiên họp.
XÉT THẤY
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Việc lập hồ sơ đề nghị đưa Lê T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội huyện H đề nghị đúng biện pháp, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo thời hạn, thời hiệu, thẩm quyền theo quy định tại các Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104 và Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi vi phạm và mức độ nhận thức của Lê T thì thấy:
Lê T biết việc sử dụng ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị nghiện nên vẫn sử dụng. Theo kết quả xét nghiệm ma túy cho thấy, loại ma túy Lê T sử dụng là Hêroin nằm trong danh mục I, STT9 quy định tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Đây là chất ma túy bị Nhà nước cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán và sử dụng. Do đó, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê T không những ảnh hưởng đến sức khỏe, nhận thức của chính bản thân Lê T mà còn làm mất an ninh, trật tự tại địa phương nên nhất thiết cần phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có thời hạn đối với Lê T.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Lê T thì thấy: Lê T không có tiền án; năm 2021, 2022 bị Công an xã Q xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng, 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 20/4/2022 Lê T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Tuy nhiên, khi làm việc với cơ quan Công an Lê T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Từ những nhận định trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 9, khoản 1 Điều 10, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104 và Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 về trình tự, thủ tục xem xét áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội huyện H về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê T.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê T, sinh năm 1977; hộ khẩu thường trú: thôn M, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Nam.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định là 03 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định. Người bị đề nghị Lê T vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện H, Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội huyện H, Cơ sở cai nghiện ma túy Quảng Nam có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND huyện H; - Trưởng Phòng LĐ-TB&XH H.H; - Trưởng Công an huyện H; - UBND xã Q; - Cơ sở cai nghiện ma túy Quảng Nam; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trần Anh Liêm |