vanban.org

Quyết định 02/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn A, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định này là 05 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn A, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/QĐ-TAHiệp Đức, ngày 18 tháng 02 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH QUẢNG NAM

Với thành phần phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán chủ trì phiên họp: ông Trần Anh Liêm.

2. Thư ký phiên họp: bà Nguyễn Thị Đào Lý.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 02/QĐ-TA ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với người bị đề nghị:

Họ và tên: Phạm T, sinh năm 1985; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn A, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam; CCCD số: 049085012180, cấp ngày 15/8/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: nông; con ông Phạm K và bà Ngô Thị Q; tiền án, tiền sự: không; có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội huyện H, tỉnh Quảng Nam: ông Lê Văn Công; Chức vụ: Chuyên viên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam: bà Bùi Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Phạm T là đối tượng đang bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam quyết định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi cư trú trong thời hạn 01 năm theo Quyết định số 2002/QĐ- UBND ngày 30/12/2024. Ngày 22/01/2025, qua công tác nắm bắt tình hình, Công an xã B phát hiện Phạm T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành thử nước tiểu cho kết quả dương tính. Cùng ngày, Cơ sở cai nghiện ma túy Quảng Nam kết luận Phạm T nghiện ma túy đá nhóm Amphetamine. Ngày 25/01/2025, Công an xã B làm việc và thông báo cho Phạm T trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả xác định tình trạng nghiện của Cơ sở cai nghiện ma túy Quảng Nam phải đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Tuy nhiên trong thời gian này Phạm T không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Theo ý kiến trình bày của Phạm T biết việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị nghiện nên đã mua ma túy để sử dụng trong thời gian bị quản lý, thời điểm sử dụng lần đầu từ năm 2021.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội huyện H cho rằng: Ngày 25/01/2025, Cơ sở cai nghiện ma túy Quảng Nam xác định Phạm T nghiện ma túy đá nhóm Amphetamine nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo thời hạn được thông báo nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 09 tháng đến 12 tháng.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Nam cho rằng: Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T có đủ căn cứ, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục và hợp pháp. Thẩm phán, Thư ký được phân công đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp. Do đó, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T.

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chúng cứ, ý kiến của những người tham gia phiên họp.

XÉT THẤY

. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Việc lập hồ sơ đề nghị đưa Phạm T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội huyện H, tỉnh Quảng Nam đề nghị đúng biện pháp, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo thời hạn, thời hiệu, thẩm quyền theo quy định tại các Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104 và Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020; Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.

. Về hành vi vi phạm: Phạm T là đối tượng đang bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam ra quyết định quản lý người nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 2002/QĐ-UBND ngày 30/12/2024. Trong thời gian bị quản lý, ngày 22/01/2025, Phạm T tiếp tục có hành vi sử dụng ma túy. Cơ sở cai nghiện ma túy Quảng Nam kết luận Phạm T nghiện ma túy đá, nhóm Amphetamine. Ngày 25/01/2025, Công an xã B, huyện H thông báo cho Phạm T trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả xác định tình trạng nghiện phải đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Tuy nhiên trong thời gian này, Phạm T không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định tại Điều 28 Nghị định số 116/2021/NĐ- CP ngày 21/02/2021 của Chính phủ nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Do đó, có cơ sở chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội huyện H về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có thời hạn đối với Phạm T.

. Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi vi phạm và mức độ nhận thức của Phạm T thì thấy: Phạm T bắt đầu sử dụng ma túy vào năm 2021, biết việc sử dụng ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng do nghiện nên đã nhiều lần mua ma túy để sử dụng. Theo kết quả xét nghiệm ma túy cho thấy, loại ma túy Phạm T sử dụng là ma túy đá, nhóm Amphetamine; đây là chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển và sử dụng. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, nhận thức của chính bản thân Phạm T mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương nên nhất thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có thời hạn đối với Phạm T.

. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với Phạm T thì thấy: Khi làm việc với cơ quan Công an và tại phiên họp Phạm T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Từ những nhận định trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 9; Điều 95; Điều 96 Điều 103; Điều 104 và Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13 tháng 02 năm 2022 về trình tự, thủ tục xem xét áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Luật Phòng, chống ma túy năm 2021: Chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội huyện H về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn A, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định này là 05 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an huyện H, Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội huyện H, Cơ sở cai nghiện ma túy Quảng Nam có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ