vanban.org

Quyết định 02/QĐ-TA

TAND huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai Tuyên án 09/02/2017 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Minh P.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai. Trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc, Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Huỳnh Minh P "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc""
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Minh P.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HuyỆn Đ
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/QĐ-TAĐ, ngày 09 tháng 02 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH GIA LAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lại Hùng Hưng

2. Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Thúy

Vào ngày 09 tháng 02 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 02/QĐ-TA ngày 02 tháng 02 năm 2017 đối với: anh Huỳnh Minh P. Giới tính: Nam

Sinh ngày 20/3/1998. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 08/12

Nguyên quán: Xã M, huyện P, tỉnh Bình Định

Chỗ ở: Lang thang, không có nơi cư trú ổn định.

Tiền án: Không; tiền sự: không

Con ông: Huỳnh Kim D và bà Bùi Thị H.

Vắng mặt không có lý do.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đ: Ông Tăng Ngọc Trai – Phó trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đ. Có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ: Ông Bùi Ngọc Trung – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ. Có mặt

NHẬN THẤY:

Vào khoảng 22 giờ 45 phút ngày 01/01/2017, Huỳnh Minh P sau khi đi chơi về thì đến phòng trọ của anh B, L, V (Đều không biết rõ họ tên) thuộc nhà ông Đào Duy L thuộc Tổ dân phố 2, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai để ngủ thì thấy B, L, V đều đang sử dụng ma túy đá nên cùng ngồi vào và sử dụng ma túy (bằng hình thức hút ma túy), và sau đó tất cả đều ngủ lại tại nhà trọ. Đến ngày 02/01/2017, Công an huyện Đ và công an thị trấn C đã tiến hành kiểm tra hành chính thì phát hiện ra việc P có sử dụng ma túy nên đã tiến hành lấy lời khai của Huỳnh Minh P, P khai nhận đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 01/01/2017. Kết quả xét nghiệm tại phiếu số 223401 ngày 03/01/2017 của Khoa xét nghiệm thuộc Trung tâm y tế huyện Đ, tỉnh Gia Lai kết luận Huỳnh Minh P dương tính với chất Metham Phetamine. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 03/01/2017 của Trung tâm y tế huyện Đ kết luận: Huỳnh Minh P có nghiện ma túy tên Metham Phetamine nên đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Sau khi tiến hành điều tra, xác minh làm rõ, Công an huyện Đ đã tiến hành lập hồ sơ chuyển cho Phòng Tư pháp, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội để đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Huỳnh Minh P.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đ trình bày: Sau khi tiếp nhận hồ sơ do Phòng tư pháp huyện chuyển đến, qua kiểm tra hồ sơ, nhận thấy Huỳnh Minh P là đối tượng nghiện ma túy, có đăng ký thường trú trú tại Tổ dân phố 2, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai nhưng sống lang thang, nay đây, mai đó, không có nơi cư trú ổn định, không chịu lao động, rèn luyện mình để trở thành công dân tốt, có ích cho cộng đồng và xã hội.

Do đó, căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013, Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (viết tắt là Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013), Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (viết tắt là Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 ) và hành vi vi phạm của Huỳnh Minh P, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Minh P trong thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính:

Theo nội dung hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đ đối với Huỳnh Minh P đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 7 đến Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân “Quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính”.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét về tính hợp pháp của hồ sơ; Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng; Ý kiến của những người tham gia phiên họp; Lý do, căn cứ và sự cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người bị đề nghị, xét thấy:

- Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

+ Về thời hiệu: Đảm bảo đúng trong thời hiệu quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 4 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

+ Về Đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Đảm bảo đúng đối tượng quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

+ Về thẩm quyền và trình tự lập hồ sơ: Đảm bảo đúng quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 8 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016.

Do đó, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện đề nghị Tòa án nhân dân huyện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Minh P là có căn cứ.

- Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:

Hành vi sử dụng chất ma túy của Huỳnh Minh P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma túy, gây ra nhiều hiểm họa khôn lường cho xã hội, cộng đồng và cho bản thân Huỳnh Minh P. Huỳnh Minh P hoàn toàn nhận thức được việc sử dụng chất ma túy là cực kỳ nguy hại đối với sức khỏe con người, là chất gây nghiện bị nhà nước nghiêm cấm mua bán trái phép, tàng trữ, sử dụng, nhưng bản thân P đã coi thường pháp luật, bất chấp sức khỏe, tính mạng của chính bản thân mình. Vì vậy, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Minh P là cần thiết.

- Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ: Không có

- Về thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính thì Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Huỳnh Minh P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Minh P.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.

3. Trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc, Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền làm đơn khiếu nại, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đ có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ có quyền kháng nghị đối với Quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an huyện Đ phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đ thi hành quyết định này.

Cỡ chữ