- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Vũ Văn S - Vũ Thị C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Vũ Văn S.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2026/QĐST-VDS | Lâm Đồng, ngày 10 tháng 3 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hạnh.
Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Rung K’Nhuận – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 72/2025/TLST-VDS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2026/QĐST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Vũ Văn S, sinh năm 1956.
Địa chỉ: thôn P, xã T, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo nội dung đơn yêu cầu và lời trình bày của người yêu cầu ông Vũ Văn S thì: Ông và bà Bùi Thị D, sinh năm 1954 xây dựng gia đình với nhau vào năm 1978, có đăng ký kết hôn với nhau theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống, ông S, bà D nhận nuôi bà Vũ Thị C, sinh năm 1978 từ khi bà C được 03 tuổi, khai sinh mang họ V của ông S và sinh được 01 người con chung là ông Vũ Hồng T, sinh năm 1980. Gia đình ông sinh sống tại thôn P, xã T (trước đây là xã T, huyện L), tỉnh Lâm Đồng. Năm 2002, vợ ông chết. Sau khi bà D chết thì bà C nói với ông S, bà C đi xuống Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn, nhưng bà C không nói rõ về việc đi đâu và làm công việc gì, kể từ năm 2002 tới nay ông S không thấy bà C về nhà. Khi không thấy thông tin của bà C, gia đình ông cũng đi tìm kiếm người thân ở mọi nơi. Đồng thời, suốt khoảng thời gian từ năm 2002 đến nay gia đình ông cố gắng tìm kiếm, nghe ngóng thông tin khắp nơi, gia đình ông cũng đã liên hệ với các chương trình truyền hình để đăng thông tin tìm kiếm bà C nhưng đều không có kết quả. Đến nay, bà C đã bỏ đi không rõ tung tích được 23 năm. Do đó, nay ông làm đơn này yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố bà Vũ Thị C, sinh năm 1978. HKTT: thôn P, xã T (trước đây là xã T, huyện L), tỉnh Lâm Đồng mất tích để ông có cơ sở làm các thủ tục liên quan đến quyền sử dụng đất.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo hướng chấp nhận đơn yêu cầu của ông S, tuyên bố bà Vũ Thị C mất tích.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho ông S.
Về chi phí tố tụng: Buộc ông S phải chịu toàn bộ chi phí đăng tin theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng nhận định:
[1] Ông Vũ Văn S và bà Bùi Thị D xây dựng gia đình với nhau năm 1978. Ông S, bà D nhận nuôi bà Vũ Thị C, sinh năm 1978 từ khi bà C được 03 tuổi, khai sinh mang họ ông S và sinh được 01 người con chung là ông Vũ Hồng T, sinh năm 1980. Năm 2002, bà Bùi Thị D chết. Cũng năm 2002, bà Vũ Thị C bỏ nhà đi khỏi địa phương đến nay không có tung tích gì. Ông S đã tìm kiếm nhưng không có thông tin gì về bà C. Tại phiên họp, ông S xác định: từ khi sinh ra đến khi bỏ đi bà C chỉ cư trú tại: thôn P, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Đối với người thân thích chỉ có duy nhất là ông Vũ Hồng T là em bà Vũ Thị C hiện đang cư trú tại: thôn P, xã T, tỉnh Lâm Đồng.
Theo chứng cứ do ông S cung cấp thì bà C bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2002. Theo yêu cầu của ông S, Tòa án đã thực hiện việc thông báo tìm kiếm bà C trên phương tiện thông tin đại chúng theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, kể từ ngày đăng tin đầu tiên (ngày 29/10/2025) đến nay đã hơn 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức gì của bà C. Tòa án đã xác minh chính quyền địa phương thì được cung cấp thông tin: bà C đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2002 đến nay. Xác minh ông Vũ Hồng T là em trai bà C thì ông T xác định không có tin tức gì của bà C. Ông S đã tìm kiếm bà C nhưng không biết hiện nay bà C đang ở đâu; bà C cũng không thông tin hay liên lạc gì về gia đình và địa phương. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: bà Vũ Thị C có nơi cư trú cuối cùng tại thôn P, xã T, tỉnh Lâm Đồng và bà C đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2002 đến nay không có tin tức. Nay ông S yêu cầu Tòa án tuyên bố bà C mất tích là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[2] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Vũ Văn S là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn lệ phí nên được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
[3] Về chi phí đăng tin: Ông Vũ Văn S phải chịu toàn bộ chi phí đăng tin tìm kiếm bà Vũ Thị C trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 3 Điều 27, Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149 và các Điều 367, 369, 370, 371, 372, khoản 2 Điều 385, 387, 388 và 389 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Vũ Văn S.
Tuyên bố bà Vũ Thị C, sinh năm 1978; nơi cư trú cuối cùng: thôn P, xã T, tỉnh Lâm Đồng mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho ông Vũ Văn S theo quy định của pháp luật.
3. Về chi phí đăng tin: Ông Vũ Văn S phải chịu 3.145.418đ (Ba triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn bốn trăm mười tám đồng) chi phí đăng tin. Số tiền này ông Vũ Văn S đã nộp đủ và đã được quyết toán xong.
4. Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn mười ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 3 – Lâm Đồng; - THA dân sự tỉnh Lâm Đồng; - UBND xã Tân Hà Lâm Hà; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | T.M HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Hạnh |