- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Lầu Mí D - Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Lầu Mí D.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2026/QĐST-DS | Tuyên Quang, ngày 27 tháng 3 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - TUYÊN QUANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Củng Trẩn Lương.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hồng - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27/3/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 13/2025/TLST-VDS ngày 03/11/2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2026/QĐST-DS ngày 11/3/2026.
- Người yêu cầu: Anh Lầu Mí D, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn L, xã S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người yêu cầu: Ông Nguyễn Xuân G, sinh năm 1981 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T số 02 tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Chị Sình Thị D1, sinh năm 2001; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn L, xã S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại phiên họp người yêu cầu trình bày: Anh Lầu Mí D và chị Sình Thị D1 đăng ký kết hôn từ năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện M, tỉnh Hà Giang (nay là xã S, tỉnh Tuyên Quang). Quá trình chung sống anh D, chị D1 có 01 con chung là Lầu Thị M, sinh ngày 08/3/2018. Đến khoảng tháng 8/2020 chị Sình Thị D1 cùng con gái Lầu Thị M tự ý bỏ nhà đi biệt tích không có thông tin gì và cũng không liên lạc gì với gia đình, khi chị D1 bỏ đi gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm như báo cho chính quyền địa phương, thông báo cho bạn bè và người thân nhưng không ai có thông tin gì về chị D1 đang ở đâu còn sống hay đã chết. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp về nhân dân cho anh D, anh D đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Sình Thị D1 mất tích.
Tại phiên họp, người yêu cầu giữ nguyên quan điểm về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Sình Thị D1 mất tích.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu trình bày: Chị Sình Thị D1 đã bỏ đi biệt tích từ tháng 8/2020, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Lầu Mí D đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị D1 mất tích. Đến nay đã hết thời hạn bốn tháng kể từ ngày đăng phát thông tin đầu tiên mà vẫn không xác định được chị D1 hiện đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết nên đề nghị Tòa án tuyên bố chị C Sình Thị D1, sinh năm 2001; nơi cư trú cuối cùng: Thôn L, xã S, tỉnh Tuyên Quang mất tích theo đơn yêu cầu của anh L Mí Dờ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên họp: Về tố tụng, từ khi thụ lý vụ việc cho đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, hợp tác tốt với Tòa án. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng không thấy chị Sình Thị D1 quay về địa phương. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang áp dụng khoản 3 Điều 27, Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 12; Điều 14; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để chấp nhận yêu cầu của anh L Mí Dờ ra quyết định tuyên bố chị Sình Thị D1 mất tích. Về lệ phí, anh Lầu Mí D là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang nhận định:
Về tố tụng: Anh Lầu Mí D có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất ích đối với chị Sình Thị D1 có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại thôn L Phìn B, xã S, tỉnh Tuyên Quang, căn cứ khoản 3 Điều 27; Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 361 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật của việc dân sự là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Tuyên Quang.
Về nội dung việc dân sự: Anh Lầu Mí D, sinh năm 1997 và chị Sình Thị D1, sinh năm 2001 đăng ký kết hôn năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện M, tỉnh Hà Giang (nay là xã S, tỉnh Tuyên Quang). Quá trình chung sống anh D, chị D1 có 01 con chung là Lầu Thị M, sinh ngày 08/3/2018. Đến khoảng tháng 08/2020 chị Sình Thị D1 cùng con gái Lầu Thị M bỏ nhà đi biệt tích đến nay không tin tức gì. Gia đình và chính quyền địa phương đã đi tìm kiếm chị D1 nhiều lần, ở nhiều nơi nhưng không thấy tin tức gì về chị D1, tính đến nay chị D1 đã biệt tích hơn 05 năm. Việc chị D1 biệt tích Công an và UBND xã S, huyện M, tỉnh Hà Giang (nay là Công an và UBND xã S, tỉnh Tuyên Quang) đã xác nhận chị Sình Thị D1 đi khỏi nơi cư trú từ tháng 08/2020 cho đến nay chị D1 không có mặt tại nơi cư trú và không có tin tức gì về chị Sình Thị D1.
Sau khi thụ lý việc dân sự theo đơn yêu cầu của anh L Mí Dờ Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tuyên Quang đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Sình Thị D1. Thông báo tìm kiếm chị Sình Thị D1 đã được B đăng tin trên 03 số báo liên tiếp số 93, 94 và 95 ra các ngày 19, 21, 26/11/2025; Đ đã phát tin nhắn tìm chị Sình Thị D1 trong 03 ngày liên tiếp, phát vào 17 giờ 30 phút ngày 20/11/2025; 13 giờ 25 phút ngày 21/11/2025 và 15 giờ 00 phút - 16 giờ 00 phút ngày 22/11/2025. Đến nay đã hết thời hạn thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực về chị Sình Thị D1 còn sống hay đã chết. Từ những nhận định trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của anh L Mí Dờ.
Anh Lầu Mí D không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, nên Tòa án không xem xét.
Về phí nhắn tìm chị Sình Thị D1 đăng trên B và phát trên Đài tiếng nói Việt Nam, anh Lầu Mí D phải chịu phí, anh D đã nộp đủ. (Theo hoá đơn giá trị gia tăng số 00000880 ngày 19/11/2025 của Trung tâm Q (V) và số 00000737 ngày 21/11/2025 của B).
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Lầu Mí D là người dân tộc thiểu số, sinh sống xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn lệ phí theo quy định tại khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 12; Điều 14, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của anh Lầu Mí D.
1. Tuyên bố Chị Sình Thị D1, sinh năm 2001; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn L, xã S, tỉnh Tuyên Quang mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Lầu Mí D được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định; Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND KV8, tỉnh Tuyên Quang; - Các đương sự; - UBND xã Sơn Vĩ, Tuyên Quang; - TGVPL; - Lưu hồ sơ VDS, VP. | THẨM PHÁN Củng Trẩn Lương |