vanban.org

Quyết định 02/2025/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào các Điều 27; 384; 385; 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự.

* Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phạm Ngọc T: Tuyên bố chị Phạm Thị T, sinh năm 1977. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn HS, xã NK (Nay là khu phố HS, thị trấn NL), huyện NL, tỉnh TH, mất tích. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với Phạm Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào các Điều 27; 384; 385; 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NL
TỈNH TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2025/QĐST - VDSNL, ngày 14 tháng 4 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/V Yêu cầu Tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NL, TỈNH TH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Lê Xuân Vinh

Thư ký phiên họp: Ông Lê Trọng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh TH.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NL tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh TH mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 92/2024/TLST - VDS ngày 25/11/2024, về việc “Yêu cầu Tuyên bố một người mất tích”, theo quyết định mở phiên họp số 06/2025/QĐST - VDS ngày 31 tháng 3 năm 2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Ngọc T, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: Khu phố HS, thị trấn NL, huyện NL, tỉnh TH. (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1977.

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn HS, xã NK (Nay là khu phố HS, thị trấn NL), huyện NL, tỉnh TH. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai và tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là anh Phạm Ngọc T trình bày: Bố mẹ anh sinh được 6 người con, chị Phạm Thị T là con thứ 3, anh là con thứ 5 trong gia đình, anh và chị T sống chung với bố mẹ anh, năm 1995 (Anh không nhớ cụ thể ngày tháng) chị Phạm Thị T đã bỏ nhà và đi khỏi địa phương, không thông báo cho anh và gia đình biết là đi đâu và làm gì, anh và gia đình đã đi tìm kiếm chị T ở nhiều nơi, nhưng không ai biết tin tức gì về chị T. Kể từ năm 1995 đến nay chị T không liên lạc và cũng không về thăm gia đình lần nào, nên tháng 11/2024 anh đã đề nghị Tòa án nhân dân huyện NL đăng tin tìm kiếm chị Phạm Thị T trên báo nhân dân và Đài tiếng nói Việt Nam, sau khi đăng tin tìm kiếm, anh và gia đình cũng không ai biết tin tức gì về chị T ở đâu, làm gì. Hiện nay bố mẹ anh đã chết, vì vậy anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện NL, giải quyết tuyên bố chị Phạm Thị T mất tích theo quy định pháp luật,

* Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Đã thực hiện việc xem xét đơn yêu cầu, xác định thẩm quyền giải quyết vụ, việc và đã thụ lý đúng theo qui định. Quá trình thu thập tài liệu chứng cứ đảm bảo tính khách quan, công khai và minh bạch, tiến hành các bước giải quyết việc dân sự, chấp hành về thời hạn giải quyết việc dân sự…theo đúng quy định tại các Điều 35; 48; 363; 366 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các thủ tục, Quyết định tố tụng trong giải quyết việc dân sự của Tòa án đều ban hành đúng trình tự, đảm bảo về nội dung do pháp luật qui định.

+ Việc Tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng giải quyết việc dân sự; Thư ký phiên họp: Thông qua thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp tại phiên họp thấy rằng: Các thành viên của Hội đồng giải quyết việc dân sự, Thư ký phiên họp đã thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của mình theo qui định tại Điều 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Có đầy đủ tư cách và năng lực dân sự khi tham gia tố tụng để bảo đảm quyền và lợi ích của mình theo Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích . Do đó, thuộc một trong những trường hợp Viên kiểm sát nhân dân phải tham gia tố tụng theo qui định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết việc dân sự:

+ Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ của Tòa án thu thập và tại phiên họp ngày hôm nay, Viện kiểm sát nhân dân huyện NL nhận thấy: Người yêu cầu chưa cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ liên quan đến lý lịch nhân thân của chị Phạm Thị T có tồn tại như trong nội dung đơn yêu cầu của người cung cấp cho Tòa án không cũng như chưa có các biện pháp công khai tìm kiếm chị T theo quy định tại khoản 2 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự

+ Quá trình kiểm sát, Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ số 02/YC-VKS-VDS ngày 08/4/2025 gửi đến Tòa án nhận dân huyện NL. Ngày 11/4/2025, Tòa án có văn bản trả lời số 238/2025/CV-TANL, để trả lời về nội dung yêu cầu Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên, việc Tòa án chỉ thu thập mỗi lời khai của người yêu cầu có nội dung “Gia đình anh chị em tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì…” là chưa đầy đủ, khách quan.

+ Do Tòa chưa thực hiện hết các yêu cầu của Viện kiểm sát đồng thời xét thấy các tài liệu có trong hồ sơ chưa thể hiện rõ chị Phạm Thị T có tồn tại hay không như anh Phạm Ngọc T trình bày, nên Viện kiểm sát chưa có quan điểm giải quyết đối với vụ án nêu trên. Căn cứ Điều 361, Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng phiên họp tạm ngừng phiên họp để tiếp tục xác minh làm rõ để giải quyết vụ, việc được khách quan, toàn diện, đúng theo quy định của pháp luật. Đảm bảo được quyền và lợi ích của các đương sự

- Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện NL nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: Căn cứ vào đơn xin xác nhận của anh Phạm Ngọc T có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn và Công an thị trấn NL và các đơn xin xác nhận của anh Phạm Văn V, chị Phạm Thị T, anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị Đ là anh chị em ruột của chị Phạm Thị T có xác nhận của chính quyền địa phương đều xác định chị Phạm Thị T đã đi biệt tích từ năm 1995 đến nay, gia đình đã tìm kiếm chị T nhiều lần nhưng không biết chị T đi đâu làm gì, đủ cơ sở xác định anh Phạm Ngọc T và chị Phạm Thị T là chị em ruột với nhau. Chị Phạm Thị T đã biệt tích trên 02 năm, hiện nay bố mẹ chị T đã chết, anh anh Phạm Ngọc T là em trai ruột của chị Phạm Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích đối với chị Phạm Thị T phù hợp với quy định tại Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu giải quyết: Xét về nội dung và thủ tục thông báo tìm kiếm chị Phạm Thị T: Sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố mất tích của anh Phạm Ngọc T, Tòa án đã quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Phạm Thị T, trên báo nhân dân ba số liên tiếp vào các ngày 28, 29 và 30 tháng 11 năm 2024; Đài tiếng nói Việt Nam đã phát sóng đăng tin tìm kiếm chị Phạm Thị T ba lần, trong ba ngày liên tiếp vào các ngày 30/11/2024 và 01, 02/12/2024 phù hợp với quy định tại Điều 384 và Điều 385 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kể từ ngày thông báo tìm kiếm chị Phạm Thị T đến nay đã trên bốn tháng, mà không có tin tức xác thực về việc chị T còn sống hoặc đã chết. Vì vậy anh Phạm Ngọc T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Phạm Thị T mất tích là có cơ sở chấp nhận. Về tài sản: Anh Phạm Ngọc T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Tòa án không giải quyết.

. Xét quan điểm giải quyết việc dân sự của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NL thấy rắng:

. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán của Hội đồng giải quyết việc dân sự; Thư ký phiên họp và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về quan điểm giải quyết việc dân sự:

. Viện kiểm sát cho rằng: Người yêu cầu chưa cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ liên quan đến lý lịch nhân thân của chị Phạm Thị T có tồn tại như trong nội dung đơn yêu cầu của người cung cấp cho Tòa án không cũng như chưa có các biện pháp công khai tìm kiếm chị T theo quy định tại khoản 2 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện NL xét thấy:

Tại đơn xin xác nhận của anh Phạm Ngọc T (BL02 và 03) có xác nhận của Công an thị trấn NL và Ủy ban nhân dân thị trấn NL huyện NL đã thể hiện vợ chồng ông Phạm Ngọc D, sinh năm 1936 mất năm 2015 và bà Phạm Thị S, sinh năm 1947, mất năm 2021, sinh được 6 người con trong đó có con gái thứ 3 là Phạm Thị T, sinh năm 1977 (Mất tích không liên lạc được), anh Phạm Ngọc T đề nghị Công an thị trấn và ủy ban nhân dân thị trấn xác nhận chị gái là Phạm Thị T, sinh năm 1977, đã bỏ nhà đi từ năm 1995, không có tin tức gì, không biết nơi cư trú ở đâu. Công an thị trấn NL đã xác nhận: Qua kiểm tra hệ thống dữ liệu quốc gia về dân cư và sổ NK3 lập ngày 20/5/2007 hộ gia đình ông Phạm Văn D không có thông tin công dân Phạm Thị T, sinh năm 1977. Hiện nay công dân T không cư trú tại địa phương, không rõ ở đâu làm gì. Việc chị T đã bỏ nhà đi từ năm 1995, nên hệ thống dữ liệu quốc gia về dân cư và sổ NK3 lập ngày 20/5/2007 không có thông tin công dân Phạm Thị T, sinh năm 1977 là có căn cứ. Như vậy anh Phạm Ngọc T đã cung cấp được nhân thân và mối quan hệ nhân thân của người bị yêu cầu tuyên bô mất tích.

Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ số 02/YC-VKS-VDS ngày 08/4/2025, Tại văn bản trả lời số 238/2025/CV-TANL, ngày 11/4/2025 Tòa án nhân dân huyện NL đã căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ gồm: Các đơn xin xác nhận (từ bút lục số 03 đến 07) đã thể hiện việc đương sự cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến nhân thân của chị Phạm Thị T, sinh năm 1977. Việc yêu cầu đương sự cung cấp các tài liệu và thông tin liên quan đến nhân thân của chị Phạm Thị T – sinh năm 1977 là không cần thiết.

Đối với nội dung người yêu cầu chưa có các biện pháp công khai tìm kiếm chị T theo quy định tại khoản 2 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự thấy rằng: Tại các đơn xin xác nhận có xác nhận của ủy ban nhân dân thị trấn NL của anh Phạm Văn V, chị Phạm Thị T, anh Phạm Văn T, anh Phạm Ngọc T và chị Phạm Thị Đ là anh chị em ruột của chị Phạm Thị T đều trình bày đã tìm kiếm chị Phạm Thị T tại các gia đình anh em họ hàng nội, ngoại hai bên và bạn bè của chị T nhiều lần, nhưng không ai biết chị T làm gì và cư trú ở đâu. Mặt khác sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án đã quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Phạm Thị T, trên báo nhân dân ba số liên tiếp vào các ngày 28, 29 và 30 tháng 11 năm 2024; Đài tiếng nói Việt Nam đã phát sóng đăng tin tìm kiếm chị Phạm Thị T ba lần, trong ba ngày liên tiếp vào các ngày 30/11/2024 và 01, 02/12/2024 phù hợp với quy định tại Điều 384 và Điều 385 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Từ những phân tích đánh giá, nhận xét ở trên thấy rằng: Tại phần phát biểu tuân theo pháp luật tố tụng Viện kiểm sát nhân dân huyện NL đều nhận xét đánh giá Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự, Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của mình. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện NL đề nghị Hội đồng phiên họp tạm ngưng phiên họp để tiếp tục xác minh là không cần thiết và không có cơ sở chấp nhận.

. Về lệ phí: Anh Phạm Ngọc T phải chịu lệ phí theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào các Điều 27; 384; 385; 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự.

* Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phạm Ngọc T:

- Tuyên bố chị Phạm Thị T, sinh năm 1977. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn HS, xã NK (Nay là khu phố HS, thị trấn NL), huyện NL, tỉnh TH, mất tích.

* Về lệ phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Anh Phạm Ngọc T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí anh Tuấn đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 000449 ngầy 22/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện NL. Chấp nhận anh Phạm Ngọc T đã nộp đủ số tiền lệ phí.

* Về quyền kháng cáo:

- Anh Phạm Ngọc T có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Chị Phạm Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện NL có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TH có quyền kháng nghị này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ