vanban.org

Quyết định 02/2025/QĐDS-ST — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Võ Văn C.

Tuyên bố cháu Võ Lê Phước D là con ruột của anh Võ Văn C và chị Lê Thị Y. Các đương sự nêu trên có quyền liên hệ đến Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang (hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú) để xin cấp giấy khai sinh cho cháu Võ Lê Phước D theo quy định pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Văn C với Võ Lê Phước D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Võ Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Quyết định số:02/2025/QĐDS-ST
Ngày: 19/02/2025
V/v“Yêu cầu xác nhận cha, mẹ
cho con”.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hà Huy Phong

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên - Kiểm sát viên.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang mở phiên họp giải quyết việc dân sự đối với hồ sơ thụ lý số 628/2024/TLST-VDS (H) ngày 11 tháng 10 năm 2024, về việc “yêu cầu xác nhận cha, mẹ cho con” theo Quyết định mở phiên họp số 1032/2024/QĐ-TA ngày 30 tháng 12 năm 2024, Thông báo hoãn phiên họp số 20/TB-TA ngày 31 tháng 12 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên họp số 40/2025/TB-TA ngày 23 tháng 01 năm 2025, giữa:

Người yêu cầu: Anh Võ Văn C, sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, (có mặt).

Người bị yêu cầu: Cháu Võ Lê Phước D, sinh ngày 11/12/2019; nơi cư trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị Y, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, (có đơn xin vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Theo đơn yêu cầu, anh Võ Văn C trình bày: Do trước đây chị Lê Thị Y (vợ anh C) chưa thực hiện thủ tục ly hôn với chồng cũ; thời điểm anh và chị Y chung sống với nhau đến năm 2019 thì sinh con chung đặt tên Võ Lê Phước D. Sau đó, chị Y thực hiện thủ tục ly hôn với chồng cũ và tiến hành đăng ký kết hôn với anh theo quy định pháp luật. Do thời điểm anh và chị Y đăng ký kết hôn sau khi đã sinh cháu D nên Ủy ban nhân dân xã nơi anh, chị cư trú không đồng ý cấp giấy khai sinh cho cháu. Vì vậy, anh làm đơn yêu cầu Tòa án xác nhận cháu D là con ruột của anh và chị Y để thực hiện việc đăng ký, điều chỉnh lại giấy khai sinh cho cháu theo quy định pháp luật.

Tại phiên họp, anh C vẫn giữ nguyên yêu cầu xác định cháu Võ Lê Phước D là con ruột của anh và chị Lê Thị Y; chị Y có đơn xin vắng mặt, thống nhất với yêu cầu của anh C. Anh, chị thống nhất với Kết luận số 7423/KL-KTHS ngày 17/01/2025 giám định về Gien (ADN) của Phân viện Khoa học hình sự, Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, phát biểu quan điểm giải quyết;

- Về tố tụng: thủ tục giải quyết việc dân sự được thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định.

- Về nội dung: Ngày 11/12/2019, chị Lê Thị Y sinh cháu Võ Lê Phước D, đến ngày 08/4/2024, chị Y và anh Võ Văn C đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M. Tuy nhiên, trước đó, bà Y còn tồn tại quan hệ hôn nhân với người khác nên không thể đăng ký khai sinh cho cháu D theo quy định. Nay, ông C yêu cầu Tòa án tuyên bố cháu Võ Lê Phươc D1, sinh ngày 11/12/2019 là con chung của anh C và chị Y để tiến hành đăng ký khai sinh theo quy định. Tại Kết luận giám định số 7423/KL-KTHS ngày 17/01/2025 của Phân viện Khoa học hình sự, Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh, xác định: chị Lê Lê Thị Y và bé Võ Lê Phước D có quan hệ huyết thống mẹ - con; anh Võ Văn C và bé Võ Lê Phước D có quan hệ huyết thống cha con nên việc anh C yêu cầu là có căn cứ.

Đề nghị, áp dụng Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 376, Điều 378 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Chấp nhận yêu cầu của anh Võ Văn C.

- Tuyên bố cháu Võ Lê Phước D là con ruột của anh Võ Văn C và chị Lê Thị Y.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, diễn biến tại phiên họp và phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự.

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền:Người yêu cầu, người bị yêu cầu có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, tỉnh An Giang. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Do trước đây chị Lê Thị Y (vợ anh C) chưa ly hôn với chồng cũ, khi anh C và chị Y sống chung với nhau đến năm 2019 thì chị Y sinh con chung đạt tên Võ Lê Phước D. Sau đó, chị Y thực hiện thủ tục ly hôn với chồng cũ và tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật với anh C. Do thời điểm anh C, chị Y đăng ký kết hôn sau khi đã sinh cháu D nên Ủy ban nhân dân xã nơi anh, chị cư trú không đồng ý cấp giấy khai sinh cho cháu D. Vì vậy, anh C làm đơn yêu cầu Tòa án xác nhận cháu D con ruột của anh và chị Y để thực hiện việc đăng ký, điều chỉnh lại giấy khai sinh cho cháu theo quy định pháp luật.

Tại phiên họp, anh C vẫn giữ nguyên yêu cầu xác định cháu Võ Lê Phước D là con ruột của anh và chị Lê Thị Y; chị Y có đơn xin vắng mặt, thống nhất với yêu cầu của anh C. Anh, chị thống nhất với Kết luận số 7423/KL-KTHS ngày 17/01/2025 giám định về Gien (ADN) của Phân viện Khoa học hình sự, Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Kết luận Giám định số 7423/KL-KTHS ngày 17/01/2025 của Phân viện Khoa học hình sự, Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh, xác định: cháu Võ Lê Phước D là con ruột của anh Võ Văn C và chị Lê Thị Y. Vì vậy, việc anh Võ Văn C yêu cầu tuyên bố cháu Võ Lê Phước D là con ruột của anh và chị Y là có căn cứ, phù hợp với Điều 89 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về chi phí tố tụng: Anh Võ Văn C phải chịu chi phí hỗ trợ đưa đi giám định là 900.000 đồng (chín trăm nghìn). Anh C đã nộp xong.

Chi phí tố tụng khác: chi phí cho việc thực hiện giám định gien (ADN), anh Võ Văn C đã thanh toán trực tiếp với Phân Viện khoa học hình sự - Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh không đặt ra xem xét.

Về lệ phí: Anh C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 371, Điều 376 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Võ Văn C.

Tuyên bố cháu Võ Lê Phước D là con ruột của anh Võ Văn C và chị Lê Thị Y.

Các đương sự nêu trên có quyền liên hệ đến Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang (hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú) để xin cấp giấy khai sinh cho cháu Võ Lê Phước D theo quy định pháp luật.

2. Về chi phí tố tụng: Anh C, chị Y đã thanh toán với Phân Viện khoa học hình sự - Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh, không đặt ra xem xét.

3. Về chi phí tố tụng: Anh C đã nộp xong chi phí cho việc hỗ trợ thực hiện việc giám định Gien (ADN) tại Thành phố Hồ Chí Minh, không xem xét.

4. Về lệ phí: Anh Võ Văn C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) lệ phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0023322 ngày 11/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Anh C đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn (07) bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc nhận được niêm yết quyết định.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ