- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị V Th Ph L: Tuyên bố bà Ph Th V, sinh năm 1984; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Bản B, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2024/QĐST-VDS Ngày: 05/3/2024 V/v: Yêu cầu Tuyên bố một người mất tích | T D, ngày 05 tháng 3 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
“V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lương Thị Ái
- Thư ký phiên họp: Ông Quang Lương Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tham gia phiên họp: Ông Trần Hoàng Thắng- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An. Mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2023/TLST-VDS ngày 13 tháng 10 năm 2023, về việc yêu cầu: Tuyên bố một người mất tích. Theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2024/QĐST-VDS ngày 27 tháng 02 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị V Th Ph L; Sinh năm: 2001. Có đơn họp xét vắng mặt.
Nơi cư trú: Bản B, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Ph Th V, sinh năm 1984.
HKTT và nơi cư trú cuối cùng: Bản B, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đề ngày 10/10/2023, Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai ngày 16/10/2023 người yêu cầu chị V Th Ph L trình bày: Mẹ đẻ chị L là bà Ph Th V, sinh năm 1984, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Bản B, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Vào đầu tháng 11/2019 bà V đi làm ăn ở thành phố Hà Nội nhưng bà không cho chị L biết bà đi làm việc gì, địa chỉ cụ thể ở đâu, kể từ thời điểm đó chị L không còn liên lạc được với bà V. Chị L đã thử mọi cách, nhờ người thân, bạn bè của bà V tìm hiểu bà V hiện nay đang ở đâu, làm gì nhưng tất cả mọi người đều không biết. Bản thân chị L hiện nay không biết bà V đang ở đâu, bà biệt tích tính đến nay cũng đã hơn 02 năm. Vì vậy chị L yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Ph Th V mất tích để chị L thuận lợi trong công việc cá nhân như làm hồ sơ kết hôn.
Theo biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An: bà Ph Th V, sinh năm 1984 là mẹ đẻ của chị V Th Ph L, sinh năm 2001. Bà Ph Th V có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại Bản B, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An từ tháng 11/2019 đến nay bà V đi khỏi địa phương, đi đâu, làm gì chính quyền địa phương không nắm được. Bà V cũng không liên hệ về gia đình và địa phương.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đề nghị Tòa án nhân dân huyện T D áp dụng Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 thấy chị V Th Ph L đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức gì của bà V, nên việc chị V Th Ph L yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” đối với bà Ph Th V là có cơ sở chấp nhận và phù hợp với quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T D nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ngày 13 tháng 10 năm 2023, chị V Th Ph L có đơn yêu cầu gửi tới Tòa án nhân dân huyện T D yêu cầu giải quyết tuyên bố mất tích đối với bà Ph Th V. Theo đơn yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì bà Ph Th V là mẹ đẻ chị V Th Ph L tại giấy khai sinh số 73 ngày 17/5/2016 nơi đăng ký khai sinh Ủy ban nhân dân xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Do đó, căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 387 Bộ luật tố tụng dân sự thì chị V Th Ph L là người có quyền, lợi ích liên quan nên có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Ph Th V mất tích. Mặt khác, bà Ph Th V có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích là bản B, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Nên Tòa án nhân dân huyện T D thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Xét yêu cầu của chị V Th Ph L thấy rằng:
Trong quá trình giải quyết người yêu cầu là chị V Th Ph L vẫn giữ nguyên yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Ph Th V. Căn cứ vào xác nhận của Công an và UBND xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An xác định bà Ph Th V có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Bản B, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Bà V không có mặt tại địa phương từ tháng 11/2019 cho đến nay, không có tin tức gì của bà V. Sau khi thụ lý giải quyết yêu cầu tuyên bố mất tích của chị V Th Ph L, ngày 18/10/2023, Tòa án đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 02/2023/QĐ-TA và đã thực hiện thủ tục thông báo tìm kiếm bà V theo quy định tại Điều 388 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là đăng phát thông tin trên các cơ quan báo, đài. Tuy nhiên kết thúc thời hạn thông báo tìm kiếm không có tin tức gì của bà V. Do đó căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015, việc chị V Th Ph L yêu cầu tuyên bố bà Ph Th V mất tích là có cơ sở chấp nhận.
. Về lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị V Th Ph L phải chịu lệ phí Tòa án theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, 370, 371, 372, 387, 388, 389, 143, 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị V Th Ph L: Tuyên bố bà Ph Th V, sinh năm 1984; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Bản B, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An mất tích.
2.Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị V Th Ph L phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được khấu trừ trong 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí chị L đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số AA/2022/0005131 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T D.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được bản sao quyết định hoặc niêm yết bản sao Quyết định. Viện kiểm sát nhân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện T D; - Chi cục THADS h. T D; - Các đương sự; - UBND xã Ng M; - Lưu HS- VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lương Thị Ái |