- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "huỷ bỏ quyết định tuyên bố chị Phạm Thị N mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 372 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 390 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2024/QĐST-VDS | Nghĩa Hưng, ngày 27 tháng 3 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là mất tích
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Phạm Hùng Phương.
Thư ký phiên họp: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 27/3/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2024/TB - TLVDS ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2024/QĐST-VDS ngày 19/3/2024 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị N – Sinh năm 1976;
Địa chỉ: Xóm A, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên họp có mặt chị N và anh K.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 08/3/2024 cũng như tại phiên họp hôm nay người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Phạm Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn K kết hôn với nhau vào tháng 9/1994 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Đến năm 2012 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm không hiểu nhau. Tháng 4/2013 chị bỏ đi khỏi địa phương cắt đứt mọi liên lạc với gia đình. Anh K cùng gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức địa chỉ gì của chị. Anh K đã đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tuyên bố chị mất tích. Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng là báo Công lý và Đ tìm kiếm chị, hết thời hạn nhắn tìm nhưng vẫn không thấy chị trở về nên Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tuyên bố chị mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số: 01/2016/QĐDS – ST ngày 05 tháng 8 năm 2016. Đến nay chị đã trở về và đang sinh sống tại: Xóm A, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nay chị đề nghị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng huỷ bỏ quyết định số: 01/2016/QĐDS – ST ngày 05 tháng 8 năm 2016 về việc tuyên bố chị mất tích.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn K trình bày: Về nội dung diễn biến A và chị Phạm Thị N kết hôn với nhau vào tháng 9/1994 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi cưới vợ chồng anh sống hòa thuận hạnh phúc. Đến năm 2013 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm không hiểu nhau. Sau đó đến tháng 4/2013 thì chị N bỏ đi khỏi địa phương cắt đứt mọi liên lạc với gia đình. Sau đó anh gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức địa chỉ gì của chị N. Anh đã đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tuyên bố chị N mất tích. Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng là báo Công lý và Đ tìm kiếm chị N, hết thời hạn nhắn tìm nhưng vẫn không thấy chị N trở về nên Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tuyên bố chị N mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số: 01/2016/QĐDS – ST ngày 05 tháng 8 năm 2016. Đến nay chị N đã trở về và đang sinh sống tại: Xóm A, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nay chị Phạm Thị N đề nghị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng huỷ bỏ quyết định số: 01/2016/QĐDS – ST ngày 05 tháng 8 năm 2016 về việc tuyên bố chị N mất tích, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết việc dân sự từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Đề Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng căn cứ Điều 70 Bộ luật dân sự; Điều 149; Điều 372, Điều 390 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị N huỷ bỏ Quyết định tuyên bố một người là mất tích số: 01/2016/QĐDS – ST ngày 05 tháng 8 năm 2016 của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng. Về lệ phí dân sự sơ thẩm: đề nghị tuyên theo quy định.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng nhận định:
Về tố tụng: Chị Phạm Thị N bị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định tuyên bố mất tích nay chị N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng huỷ bỏ Quyết định tuyên một người là mất tích do đó căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định thụ lý giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền.
Về nội dung: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn K đăng ký kết hôn tại UBND xã N vào tháng 9/1994. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Đến năm 2012 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm không hiểu nhau. Đến tháng 4/2013 chị N bỏ đi khỏi địa phương cắt đứt mọi liên lạc với gia đình. Anh K cùng gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức địa chỉ gì của chị N. Anh K đã đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tuyên bố chị N mất tích. Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã thông báo tìm kiếm chị N trên B và Đ, hết thời hạn nhắn tìm nhưng vẫn không thấy chị N trở về nên Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tuyên bố chị N mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số: 01/2016/QĐDS – ST ngày 05 tháng 8 năm 2016. Hiện tại chị Phạm Thị N đã trở về và đang sinh sống tại: Xóm A, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nay chị N có đơn yêu cầu huỷ Quyết định giải quyết việc dân sự số: 01/2016/QĐDS – ST ngày 05 tháng 8 năm 2016 của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tuyên bố chị Phạm Thị N mất tích. Vì vậy, căn cứ vào Điều 70 Bộ luật Dân sự, Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị N về việc huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là mất tích đối với chị Phạm Thị N là đúng pháp luật.
Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị N phải nộp theo quy định.
Thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng về việc giải quyết việc dân sự là phù hợp.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 149; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 390 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 70 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 6; Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Phạm Thị N.
Huỷ bỏ quyết định giải quyết việc dân sự số: 01/2016/QĐDS – ST ngày 05/8/2016 của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng về việc tuyên bố một người là mất tích đối với chị Phạm Thị N, sinh năm 1976; Địa chỉ: Xóm A, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình.
2. Lệ phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị N phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm chị N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001349 ngày 11 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị Phạm Thị N đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn K có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trong trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh ; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - Đương sự. - UBND xã N; - UBND xã Q; - Lưu VP, HS. | THẨM PHÁN (Đã ký) Phạm Hùng Phương |