- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "việc dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đức T về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2024/QĐST-VDS | Bố Trạch, ngày 29 tháng 02 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Phú Quảng.
Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên họp: Ông Đinh Văn Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 05/2023/TLST-VDS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2024/QĐST-VDS ngày 21 tháng 02 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn A, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1976; Nơi cư trú trước khi biệt tích: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1950. Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
3. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
4. Ông Nguyễn Văn Ổ, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
5. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn Ổ, ông Nguyễn Văn H: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, tại bản tự khai và tại phiên họp hôm nay người yêu cầu, ông Nguyễn Đức T trình bày:
Bố mẹ ông T là ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T cùng thường trú tại: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình (hiện nay ông N và bà T đã chết). Quá trình chung sống ông N và bà T có 06 người con bao gồm: bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Đức T, ông Nguyễn Văn Ổ, ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Văn A.
Năm 1998 em trai ông T là ông Nguyễn Văn A đi làm ăn tại Sài Gòn cho đến nay không trở về địa phương một lần nào, khi ra đi ông A không nói cho gia đình địa chỉ cụ thể nơi ông A sẽ đến sinh sống và làm việc. Kể từ ngày ông A đi cho đến nay gia đình đã tìm kiếm khắp nơi bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng vẫn không có kết quả, vì vậy cho nên gia đình ông T không biết ông A hiện nay đang làm gì, ở đâu còn sống hay đã chết.
Do ông Nguyễn Văn A đã bỏ nhà đi từ năm 1998 hiện nay không rõ tung tích nên ông Nguyễn Đức T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch tuyên bố ông Nguyễn Văn A mất tích.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn Ổ, ông Nguyễn Văn H do ông Nguyễn Đức T là đại diện theo ủy quyền cũng thống nhất với toàn bộ ý kiến của ông T và yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn A mất tích.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự:
- Về tố tụng: Đây là quan hệ pháp luật yêu cầu tuyên bố một người mất tích; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn A có nơi cư trú cuối cùng là Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình do đó việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ khi thụ lý cho đến phiên họp hôm nay: Thẩm phán, Thư ký đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Các đương sự chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng giải quyết việc dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149; Điều 370, 387 và 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Đức T, tuyên bố ông Nguyễn Văn A, sinh ngày 15/4/1976 hiện nay mất tích.
Đề nghị tuyên người yêu cầu phải chịu lệ phí dân sự, quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo đối với người có đơn yêu cầu, người liên quan theo quy định tại các Điều 371 và 372 Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Đức T yêu cầu Toà án tuyên bố ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1976; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng là Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình mất tích. Vì vậy theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
[2] Về nội dung yêu cầu:
[2.1] Ông Nguyễn Đức T cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn Ổ, ông Nguyễn Văn H thống nhất trình bày: Ba mẹ ông T là ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T cùng thường trú tại: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình (Hiện nay ông N và bà T đã chết). Quá trình chung sống ông N và bà T có 06 người con bao gồm: bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Đức T, ông Nguyễn Văn Ổ, ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Văn A. Năm 1998 ông Nguyễn Văn A đi làm ăn tại Sài Gòn cho đến nay không thấy trở về địa phương một lần nào, khi ra đi ông A không nói cho gia đình địa chỉ cụ thể mà ông A sẽ đến sinh sống và làm việc. Kể từ ngày ông A đi cho đến nay gia đình đã tìm kiếm khắp nơi bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng vẫn không có kết quả, vì vậy cho nên gia đình ông T không biết ông A hiện nay đang làm gì, ở đâu còn sống hay đã chết. Do ông Nguyễn Văn A đã bỏ nhà đi từ năm 1998 hiện nay không rõ tung tích nên ông Nguyễn Đức T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch tuyên bố mất tích đối với ông Nguyễn Văn A. Đồng thời bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn Ổ và ông Nguyễn Văn H là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với ý kiến của ông Nguyễn Đức T.
[2.2] Theo nội dung xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Vạn Trạch, huyện Bố Trạch vào ngày 28/5/2023 đã xác định “Ông Nguyễn Văn A đã không liên lạc với gia đình từ năm 1998 cho đến nay” và Công an xã Vạn Trạch cũng xác định hiện tại ông Nguyễn Văn A không có mặt tại địa phương. Tại Công văn số 27369/QLXNC- P3 cũng xác nhận ông Nguyễn Văn A chưa có thông tin xuất nhập cảnh.
[2.3] Quá trình giải quyết việc dân sự, Toà án nhân dân huyện Bố Trạch đã làm các thủ tục ra Quyết định số 02/2023/QĐ - TA ngày 05/10/2023 thông báo tìm kiếm ông Nguyễn Văn A qua Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOVAMS) vào các ngày 21, 22 và ngày 23/10/2023; đăng tin trên báo Công lý trong ba số liên tiếp 84, 85 và 86 vào các ngày 20, 25 và 27/10/2023 và đăng tin trên cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình ngày 11/10/2023. Tuy nhiên đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng tin nhưng ông Nguyễn Văn A cũng không có thông tin hoặc thông báo gì cho ông T cũng như Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Vì vậy, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ nêu trên việc ông Nguyễn Đức T yêu cầu Toà án tuyên bố ông Nguyễn Văn A mất tích là có căn cứ cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung giải quyết yêu cầu là có cơ sở xem xét.
[3] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án ông Nguyễn Đức T phải nộp 300.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 149; Điều 366, 369; 370, 371, 372, 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đức T về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.
Tuyên bố ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1976; nơi cư trú trước khi biệt tích: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình hiện nay mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Đức T phải chịu số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 31AA/2021/0002802 ngày 02/10/2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Quyết định được tống dạt hợp lệ cho họ.
4. Về quyền kháng nghị: Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định.
TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng bình; - VKSND huyện Bố Trạch; - THA Bố Trạch; - UBND xã V; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Phú Quảng |