vanban.org

Quyết định 02/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của bà Trịnh Thị H, tuyên bố ông Phan Thanh T, sinh năm 1960. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho bà Trịnh Thị H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2024/QĐST-DSQuảng Trạch, ngày 28 tháng 5 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần phiên họp giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Sơn

Thư ký phiên họp: Bà Cao Thùy Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch tham gia phiên họp: Ông Tạ Phong Linh- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 14/2023/TLST-VDS, ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trịnh Thị H, sinh năm 1958. Địa chỉ: thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Thanh T, sinh năm 1960. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình;

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Trịnh Thị H trình bày: Bà Trịnh Thị H và ông Phan Thanh T có quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 10/4/1983. Sau khi kết hôn thời gian đầu cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc tuy nhiên, giữa vợ chồng xảy ra một số mâu thuẫn nhỏ. Đến năm 2011 ông T bỏ nhà đi không rõ lý do, từ đó đến nay không có tin tức, thư từ, liên lạc gì với gia đình. Trong thời gian ông T bỏ nhà đi, gia đình đã cố gắng hỏi thăm, tìm kiếm tin tức của ông T nhưng vẫn không có kết quả, không có địa chỉ, tin tức gì của ông T. Để bảo vệ quyền lợi cũng như vì tương lai của mình nên bà H đã nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch tuyên bố ông T mất tích.

Ngày 17/01/2024 Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch đã ra Quyết định số 01/2024/QĐST-DS về việc “Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích”. Nội dung Quyết định thông báo trên các phương tiện thông tin trên báo C ba số liên tiếp 06, 07, 08 ra các ngày 19, 24, 26/01/2024; phát thông báo nhắn tin qua Đ vào thời gian 17 giờ 30 phút đến 18 giờ các ngày 21, 22, 23/01/2024. Kể từ ngày nhắn tin và đăng báo cho đến nay vẫn không có tin tức gì về ông T. Tại phiên họp, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố ông Phan Thanh T mất tích. Về con chung: Bà Trịnh Thị H trình bày, quá trình chung sống vợ chồng có 04 con chung tên là Phan Thanh T1, sinh năm 1983; Phan Thanh T2, sinh năm 1985; Phan Thị H1, sinh năm 1989; Phan Anh H2, sinh năm 1994. Các con đã trưởng thành, trên 18 tuổi, có công việc ổn định tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Thư ký phiên họp: Thẩm phán và Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp hành đúng quy định về việc mở phiên họp.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý cũng như tại phiên họp đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và những quy định khác của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Về quan hệ pháp luật: Tòa án xác định việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” là phù hợp theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu về việc tuyên bố ông Phan Thanh T, sinh năm 1960; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình mất tích;

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch nhận định:

Về tố tụng: Xét đơn yêu cầu của bà Trịnh Thị H xác định đây là việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Ông Phan Thanh T có nơi cư trú cuối cùng tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Trịnh Thị H và ông Phan Thanh T đã đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 10 tháng 4 năm 1983, hai vợ chồng có 04 người con đều đã trưởng thành. Đến năm 2011 thì ông T đã bỏ nhà đi không rõ tung tích, địa chỉ. Bà H và gia đình đã tổ chức tìm kiếm nhưng vẫn không rõ tung tích về ông T. Chính quyền địa phương cũng đã xác nhận ông T đã bỏ đi khỏi địa phương từ thời gian năm 2011 đến nay không có tin tức gì.

Căn cứ vào số sổ hộ khẩu số 470003892: ông Phan Thanh T đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình từ năm 2007. Ông T đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2011, hiện nay ông T ở đâu, làm gì không rõ. Sau khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu của bà H, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Phan Thanh T; đã đăng tải nội dung Quyết định thông báo trên các phương tiện thông tin: báo C ba số liên tiếp 06, 07, 08 ra các ngày 19, 24, 26/01/2024; phát thông báo nhắn tin qua Đ vào thời gian 17 giờ 30 phút đến 18 giờ các ngày 21, 22, 23/01/2024 nhưng vẫn không có kết quả. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và hàng xóm láng giềng của ông T cho thấy, ông T đã bỏ đi khỏi gia đình, đi khỏi địa phương từ năm 2011 cho đến nay. Khi đi ông T không làm thủ tục cắt chuyển hộ khẩu hay giấy tạm vắng từ chính quyền cũng như không báo địa chỉ, không thông tin, liên lạc gì về cho gia đình nên chính quyền địa phương và gia đình ông T hoàn toàn không biết ông T hiện đang sinh sống và làm việc ở đâu.

Như vậy, ông T đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 2011 tính đến nay đã hơn 10 năm vẫn không có tin tức xác thực và đây cũng là ngày biết tin tức cuối cùng. Việc đăng tin, phát sóng để tìm kiếm ông T đã tuân thủ luật định và thời gian đăng tin, phát thông báo lần đầu tiên là ngày 19/01/2024 đến nay đã hơn 04 tháng, kể từ ngày đăng thông báo vẫn không có tin tức gì về ông T.

Do đó, Toà án đã có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà Trịnh Thị H về việc tuyên bố ông Phan Thanh T mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự.

Đối với việc quản lý tài sản của ông Phan Thanh T: Quá trình giải quyết việc dân sự, bà Trịnh Thị H không yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của ông T nên không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình là có cơ sở chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trịnh Thị H là người cao tuổi, có đơn xin miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự vì vậy căn cứ điểm đ, Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho bà Trịnh Thị H;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 370, 371, 372, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trịnh Thị H, tuyên bố ông Phan Thanh T, sinh năm 1960. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho bà Trịnh Thị H.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Trịnh Thị H có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định; ông Phan Thanh T có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tỉnh Quảng Bình có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ