vanban.org

Quyết định 02/2024/QĐ-TA

TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 01/02/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với: Vi Văn T, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1990.

Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, địa chỉ: Km 10, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vi Văn T, cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với: Vi Văn T, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1990.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2024/QĐ-TAHữu Lũng, ngày 01 tháng 02 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Tuyết.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Đạt.

Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 02/QĐ-TA ngày 26 tháng 01 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Vi Văn T, sinh ngày 12/05/1990;

Số định danh cá nhân: 020090012857.

Trình độ văn hóa: Lớp 09/12.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn BI, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án: Không; tiền sự: Có 02 tiền sự, ngày 16/11/2016 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 22/11/2020 đã chấp hành xong; ngày 12/4/2021 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 12/10/2023 đã chấp hành xong.

Con ông Vi Văn Đ và bà Hoàng Thị T.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn: Ông Đặng Xuân T – Trưởng phòng. Người được ủy quyền: Ông Triệu Đức H – Chuyên viên (Theo văn bản ủy quyền ngày 30/01/2024).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn: Ông Mã Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, hành vi vi phạm của Vi Văn T được tóm tắt như sau:

Vi Văn T là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú từ ngày 06/11/2023 đến ngày 06/11/2025. Ngày 22/12/2023 Công an xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn có văn bản số 67/GĐN-CAX gửi Trạm Y tế xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn đề nghị xác định tình trạng nghiện ma tuý của Vi Văn T. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 22/12/2023, của Trạm Y tế xã H, huyện H, xác định kết quả Vi Văn T nghiện ma túy Heroin. Tại bản tường trình Vi Văn T đã khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình; bản thân nghiện ma túy từ năm 2016, loại ma túy sử dụng là Heroin; lần sử dụng gần nhất là ngày 21/12/2023; Vi Văn T đã 02 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, lần 01 theo Quyết định số: 20/QĐ-TA, ngày 16/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn với thời gian 20 tháng, lần 02 theo Quyết định số: 03/QĐ-TA, ngày 12/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn với thời gian 24 tháng.

Ngày 02/01/2024, Ủy ban nhân dân xã H đã lập biên bản vi phạm về việc cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Vi Văn T do không thực hiện đăng ký cai nghiện tự nguyện, không đăng ký cai nghiện bằng thuốc thay thế theo thông báo số 68/TB-CAX ngày 22/12/2023 của Công an xã H, huyện H.

Ngày 24/01/2024, Trưởng phòng Lao động Thương binh Xã hội - Dân tộc huyện H có văn bản số 23/ĐN-CNBB đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn T.

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị trình bày ý kiến: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Vi Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, với thời gian cai nghiện 22 tháng đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đầy đủ, đảm bảo tuân thủ đúng quy định. Trình tự, thủ tục tại phiên họp được thực hiện đầy đủ. Phòng Lao động Thương binh Xã hội

- Dân tộc huyện đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn T là có căn cứ. Do đó, đề nghị căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, khoản 2 Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ; các Điều 3, 8, 9, 10, 11,12, 13, 17, 18, 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đưa đối tượng Vi Văn T đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, thời gian từ 22 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Hồ sơ được lập đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và đảm bảo đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020 (sau đây gọi tắt Luật Xử lý vi phạm hành chính) và các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021, của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Về thời hiệu áp dụng: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do đó, thời hiệu đảm bảo phù hợp theo quy định.

Đối tượng Vi Văn T là người nghiện ma túy Heroin, có nơi cư trú ổn định, đã được Công an xã H thông báo đăng ký cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng hoặc đăng ký uống Methadone tại Trung tâm Y tế nhưng không thực hiện nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.

Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vi Văn T là đầy đủ, hợp pháp, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Vi Văn T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Về tình tiết tăng nặng: Năm 2021 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đến ngày 12/10/2023 mới chấp hành xong nay lại tiếp tục tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Xét về nhân thân: Vi Văn T là người đã trưởng thành nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện nên bản thân mắc nghiện ma túy từ năm 2016, bị lệ thuộc vào chất ma túy mặc dù năm 2016, 2021 đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Vi Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý hành chính nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, việc đưa Vi Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết.

Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến tại phiên họp, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người bị đề nghị. Xét thấy cần đưa người bị đề nghị vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, đảm bảo có thời gian hợp lý để lao động, học tập và cai nghiện ma túy dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc. Có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục người bị đề nghị trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105 và Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 27, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ; các Điều 3, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 17, 18, 21, 23, 24, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với: Vi Văn T, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1990. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn BI, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, địa chỉ: Km 10, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh Xã hội - Dân tộc huyện Hữu Lũng phối hợp với Công an huyện Hữu Lũng, đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ