- Tranh chấp gì? "Hợp tác xã A - Phòng Tài chính kế hoạch huyện C, tỉnh Gia Lai"
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 243 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! TỈNH!GIA!LAI! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2024/QĐ-PT | Gia Lai, ngày 14 tháng 11 năm 2024 |
QUYẾT!ĐỊNH!
GIẢI!QUYẾT!VIỆC!KHÁNG!CÁO!ĐỐI!VỚI!!
QUYẾT!ĐỊNH!ĐÌNH!CHỈ!GIẢI!QUYẾT!VỤ!ÁN!HÀNH!CHÍNH!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!GIA!LAI!
- Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đinh Thị Như Phượng.
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình và ông Phan Tiến Dũng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Mỹ Hiền – Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 01/2024/QĐST-HC ngày 30 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai đã căn cứ Điều 116, điểm g khoản 1 Điều 143 của Luật Tố tụng hành chính để đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh", giữa:
- Người khởi kiện: Hợp tác xã A; địa chỉ: Thôn Tung K, xã Ayun, huyện C, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H1; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
- Người bị kiện: Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện C; địa chỉ: 757 Hùng Vương, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Uỷ ban nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai.
Địa chỉ: 761 Hùng Vương, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai.
Tại Đơn kháng cáo đề ngày 04 tháng 10 năm 2024, Hợp tác xã A đề nghị Huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 01/2024/QĐST-HC ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai.
Tại phiên họp: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 01/2024/QĐST-HC ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai.!
XÉT!THẤY!
Ngày 29/5/2014, Hợp tác xã A được Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện C cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp tác xã số 39K800018, địa chỉ trụ sở chính: Thôn Tung K, xã Ayun, huyện C, tỉnh Gia Lai.
Ngày 09/7/2014, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện C có Quyết định số 13/QĐ-TCKH và Quyết định số 14/QĐ-TCKH về việc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Hợp tác xã A với lý do thủ tục xin cấp giấy không đúng quy định.
Không đồng ý với Quyết định số 13/QĐ-TCKH và Quyết định số 14/QĐ-TCKH ngày 09/7/2014 của Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện C, Hợp tác xã A đã khiếu nại đến Uỷ ban nhân dân huyện C, Thanh tra tỉnh Gia Lai và Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai.
Theo “Biên bản làm việc” ngày 03/6/2016 của Thanh tra tỉnh Gia Lai làm việc với đại diện Uỷ ban nhân dân huyện C và có sự tham gia của đại diện Hợp tác xã A là ông Nguyễn Văn H1, ông Phan Văn H2 (bút lục số 42 đến 45), có nội dung kết luận: “ Theo thẩm quyền pháp luật quy định thì Phòng Tài chính kế hoạch huyện C là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với khiếu nại của ông H1. Vì vậy đề nghị ông H1 viết đơn khiếu nại, nêu rõ các nội dung khiếu nại gửi đến Phòng TCKH huyện; Phòng TCKH huyện có trách nhiệm ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu cho ông H1. Nếu ông H1 không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Trưởng phòng TCKH thì có quyền tiếp tục khiếu nại đến chủ tịch UBND huyện C hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định”.
Thực hiện theo ý kiến chỉ đạo tại Báo cáo số 91/BC-TTr ngày 30/6/2016 của Thanh tra tỉnh Gia Lai, ngày 12/9/2016 Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện C đã có Công văn số 266/TCKH-TH ngày 12/9/2016 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của ông Nguyễn Văn H1, nội dung: “ Nếu tiếp tục khiếu nại về nội dung Quyết định số 13/QĐ-TCKH và Quyết định số 14/QĐ-TCKH ngày 09/7/2014 của Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện C về việc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh HTX A thì đề nghị ông H1viết đơn khiếu nại gửi đến phòng Tài chính – Kế hoạch huyện C để giải quyết theo quy định. Nếu sau 15 ngày (tính từ ngày 15/9/2016) ông H1 không gửi đơn khiếu nại đến Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện thì Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện sẽ không giải quyết khiếu nại của ông H1 liên quan đến các Quyết định số 13/QĐ-TCKH và quyết định số 14/QĐ-TCKH của Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện”. Công văn số 266/TCKH-TH đã được giao nhận trực tiếp cho ông Nguyễn Văn H1 là người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã A nhưng ông H1 không thực hiện việc khiếu nại gửi đến Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện. Đến ngày 27/11/2023 ông Nguyễn Văn H1 khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện C yêu cầu hủy Quyết định số 13/QĐ-TCKH và Quyết định số 14/QĐ-TCKH ngày 09/7/2014 của Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện C, đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền 1.000.000.000đ.
Điều 116 của Luật tố tụng hành chính 2015 quy định:
“1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
2. Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:
a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc”.
Theo các quy định trên thì trong thời hạn 01 năm kể từ ngày biết được Quyết định số 13/QĐ-TCKH và Quyết định số 14/QĐ-TCKH ngày 09/7/2014 của Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện C về việc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì Hợp tác xã A có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Tuy nhiên, Hợp tác xã A không tiến hành việc khiếu nại gửi đến Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo hướng dẫn.
Tại “Biên bản lấy lời khai của đương sự” ngày 14/8/2024 của Toà án nhân dân huyện C (Bút lục số 48, 49), ông H1trình bày: “Dù nhận được Quyết định số 13, 14 từ năm 2014 tuy nhiên do việc khiếu nại không có kết quả và không hiểu biết các quy định của pháp luật nên đến năm 2023 Hợp tác xã mới khởi kiện ra Toà án”. Như vậy, ngày 27/11/2023, Hợp tác xã A khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện C về việc yêu cầu hủy Quyết định số 13/QĐ-TCKH và Quyết định số 14/QĐ-TCKH ngày 09/7/2014 của Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện C đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền 1.000.000.000đ là đã hết thời hiệu khởi kiện.
Toà án nhân dân huyện C ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 01/2024/QĐST-HC ngày 30/9/2024 vì lý do hết thời hiệu khởi kiện là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, kháng cáo của Hợp tác xã A không có cơ sở chấp nhận.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo là Hợp tác xã A phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:!
1. Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính, bác kháng cáo của Hợp tác xã A và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 01/2024/QĐST-HC ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện C.
2. Hợp tác xã A phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0005140 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Gia Lai. Hợp tác xã A đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai - TAND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! | !!!!TM.!HỘI!ĐỒNG PHÚC!THẨM !!!THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!HỌP! ! ! ! ! !!!!!!!!!!Đinh!Thị!Như!Phượng! |