- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sinh - Phước"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Vũ Thị S về việc xác định cha cho con.
- Căn cứ chính? Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2023/QĐST-VHNHGĐ |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hoàng Xuân Tuân
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị An
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Khuất Thị Mỹ Dung
Ngày 12 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 39/2023/TLST-VHNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về việc “yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2023/QĐPH-ST ngày 06 tháng 4 năm 2023, giữa:
- Người yêu cầu: Chị Vũ Thị S, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn 11, xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Hoàng Minh P, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn 11, xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; có mặt
+ Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn Làng 1, xã Kim Quan, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội; xin vắng mặt
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu và lời khai quá trình giải quyết vụ việc chị Vũ Thị S trình bày: Năm 2007 chị kết hôn với anh Nguyễn Anh T. Chị và anh T sinh được 02 con chung là cháu Nguyễn Vũ Tú Anh sinh năm 2008 và cháu Nguyễn Vũ Minh Quyết sinh năm 2012. Do vợ chồng có mâu thuẫn nên năm 2016 chị đã dọn ra ngoài, thuê nhà và sống ly thân với anh T. Trong thời gian này chị có tình cảm với anh Hoàng Minh P. Chị và anh P chung sống cùng nhau và có 02 con chung là cháu Hoàng Ngọc Bảo Châu, sinh ngày 01/5/2018 (theo giấy chứng sinh cấp ngày 01/5/2018 của Bệnh viện đa khoa huyện Hoài Đức) và cháu Hoàng Đại Phát, sinh ngày 23/8/2020 (theo giấy chứng sinh cấp ngày 23/8/2020 của Bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng). Cháu Châu, cháu Phát chưa làm thủ tục khai sinh theo quy định.
Năm 2020 chị và anh T giải quyết ly hôn. Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 72/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, quyết định: chị và anh T thuận tình ly hôn, về con chung là cháu Tú Anh và cháu Minh Quyết giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Tại thời điểm giải quyết ly hôn chị đã không khai 02 con riêng của chị với anh P cho Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất biết. Nay chị yêu cầu Tòa án xác định cháu Hoàng Ngọc Bảo Châu, sinh ngày 01/5/2018 và cháu Hoàng Đại Phát, sinh ngày 23/8/2020 là con ruột của anh Hoàng Minh P để chị làm tục khai sinh cho các cháu.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Minh P trình bày: Năm 2016 anh có tìm hiểu và nảy sinh tình cảm với chị Vũ Thị S. Anh biết chị S đã có chồng và có 02 con. Tuy nhiên, anh vẫn đồng cảm, yêu thương chị S. Anh và chị S đã chung sống cùng nhau và có 02 con chung là cháu Hoàng Ngọc Bảo Châu, sinh ngày 01/5/2018 và cháu Hoàng Đại Phát, sinh ngày 23/8/2020. Do chị S chưa ly hôn với chồng nên anh không thể khai sinh cho con. Năm 2020 chị S đã hoàn thiện xong thủ tục ly hôn, anh và chị S đã đang ký kết hôn theo quy định pháp luật. Cháu Châu, cháu Phát được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị S và anh T nên anh không thể thực hiện được việc khai sinh cho các con của mình. Nay anh đề nghị Tòa án công nhận anh là cha ruột cháu Hoàng Ngọc Bảo Châu, sinh ngày 01/5/2018 và cháu Hoàng Đại Phát, sinh ngày 23/8/2020.
- Anh Nguyễn Anh T trình bày: Năm 2007 anh và chị S kết hôn với nhau. Anh và chị S có 02 con chung là cháu Nguyễn Vũ Tú Anh sinh năm 2008 và cháu Nguyễn Vũ Minh Quyết sinh năm 2012. Do vợ chồng có nhiều bất đồng nên năm 2016 chị S đã dọn ra ngoài, vợ chồng sống ly thân. Ngày 10/6/2020 Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội đã giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị S; anh là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn. Trong thời gian anh và chị S ly thân, chị S có sinh cháu Hoàng Ngọc Bảo Châu, sinh ngày 01/5/2018 và cháu Hoàng Đại Phát, sinh ngày 23/8/2020. Cháu Châu, cháu Phát không phải là con của anh.
Tại phiên họp, chị S giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự, đề nghị Tòa án xác định anh Hoàng Minh P là bố đẻ của cháu Hoàng Ngọc Bảo Châu, sinh ngày 01/5/2018 và cháu Hoàng Đại Phát, sinh ngày 23/8/2020.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 29, 370, 371 và Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 89; khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 của Luật hôn nhân và gia đình: chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị S về việc xác định cháu Hoàng Ngọc Bảo Châu, sinh ngày 01/5/2018 và cháu Hoàng Đại Phát, sinh ngày 23/8/2020 là con của anh Hoàng Minh P. Chị S phải chịu lệ phí dân sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội nhận định:
Về thẩm quyền: Anh Hoàng Minh P có địa chỉ cư trú tại xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ. Căn cứ vào khoản 10 Điều 29, điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ
Về yêu cầu của chị Vũ Thị S:
Anh Nguyễn Anh T và chị Vũ Thị S có đăng ký kết hôn năm 2007. Do vợ chồng có mâu thuẫn nên từ năm 2016 đến năm 2020 anh T, chị S sống ly thân nhau. Chị S đã ra ngoài thuê nhà ở riêng. Trong thời gian này, chị S nảy sinh tình cảm với anh Hoàng Minh P và đã sinh 02 con chung với anh P là cháu Hoàng Ngọc Bảo Châu, sinh ngày 01/5/2018 và cháu Hoàng Đại Phát, sinh ngày 23/8/2020.
Ngày 10/6/2020 anh T, chị S giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Khi giải quyết ly hôn, anh T, chị S đều không khai cháu Hoàng Ngọc Bảo Châu và cháu Hoàng Đại Phát là con chung của anh chị.
Căn cứ vào kết quả xét nghiệm gen ADN ngày 06/3/2023 của Công ty TNHH Đầu tư và Công nghệ Genplus giữa anh Hoàng Minh P với cháu Hoàng Ngọc Bảo Châu sinh ngày 01/5/2018 và cháu Hoàng Đại Phát sinh ngày 23/8/2020, kết luận: Anh Hoàng Minh P có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Hoàng Ngọc Bảo Châu; anh Hoàng Đại Phát có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Hoàng Đại Phát.
Quá trình giải quyết vụ việc, chị Vũ Thị S, anh Hoàng Minh P đều khẳng định cháu Hoàng Ngọc Bảo Châu và cháu Hoàng Đại Phát là con chung của anh chị được sinh ra trong thời gian chị đang sống ly thân với anh Nguyễn Anh T. Anh Nguyễn Anh T xác định Hoàng Ngọc Bảo Châu và cháu Hoàng Đại Phát không phải là con đẻ của anh và anh không có ý kiến gì với kết quả giám định ADN.
Xét thấy, yêu cầu của chị Vũ Thị S là phù hợp với quy định tại khoản khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được Tòa án chấp nhận.
Về lệ phí: Chị Vũ Thị S phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 10 Điều 29; khoản 2 Điều 146; Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 89; khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Vũ Thị S về việc xác định cha cho con.
Xác định anh Hoàng Minh P, sinh năm 1986; nơi thường trú: Thôn 11, xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội là cha đẻ của cháu Hoàng Ngọc Bảo Châu, sinh ngày 01/5/2018 (theo giấy chứng sinh cấp ngày 01/5/2018 của Bệnh viện đa khoa huyện Hoài Đức) và cháu Hoàng Đại Phát, sinh ngày 23/8/2020 (theo giấy chứng sinh cấp ngày 23/8/2020 của Bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng).
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Vũ Thị S phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0042035 ngày 27/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
3. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội; - CCTHADS huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội; - UBND xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN Hoàng Xuân Tuân |