vanban.org

Quyết định 02/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Ngọc C về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Hồ Xuân H mất tích.

Tuyên bố: Ông Hồ Xuân H, sinh năm 1982, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích B1725 Chung cư 199 đường N, Phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu mất tích. Về lệ phí việc Dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Ngọc C phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Phạm Thị Ngọc C - Hồ Xuân H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Ngọc C về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Hồ Xuân H mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 36 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2023/QĐST-VDSVũng Tàu, ngày 28 tháng 02 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Dương Thị Hương.

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Dân sự thụ lý số 363/2022/TLST-VDS ngày 03 tháng 10 năm 2022, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2023/QĐST-VDS ngày 22 tháng 02 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

-Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị Ngọc C, sinh năm 1987.

Hộ khẩu thường trú: B1725 Chung cư 199 đường N, Phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Địa chỉ hiện nay: Số 38 đường P, Phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Xuân H, sinh năm 1982.

Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: B1725 Chung cư 199 đường N, Phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp người yêu cầu bà Phạm Thị Ngọc C trình bày:

Vào năm 2012, bà và ông Hồ Xuân H có tổ chức đám cưới và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố A, tỉnh Long An. Sau đó vợ chồng bà về Vũng Tàu sinh sống tại địa chỉ B1725 Chung cư 199 đường N, Phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, đến ngày 18-02-2013 bà sinh 01 con trai tên Hồ Song A. Trong quá trình chung sống bà và ông H phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đến cuối tháng 12-2019, ông H đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ đó đến nay không có tin tức gì. Từ ngày ông H bỏ đi đến nay bà và gia đình đã dùng nhiều biện pháp tìm kiếm ông H nhưng không ai biết gì về tin tức của ông H.

Theo kết quả xác minh ngày 12-12-2022 của Công an Phường M, thành phố V, ông Hồ Xuân H, sinh năm 1982, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số B1725 Chung cư 199 đường N, Phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; ông Hồ Xuân H không còn ở địa chỉ trên từ tháng 12-2019 đến nay, hiện đang ở đâu, làm gì không rõ.

Nay, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Hồ Xuân H, sinh năm 1982, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng số B1725 Chung cư 199 đường N, Phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu mất tích để bà làm thủ tục ly hôn với ông Hồ Xuân H.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc Dân sự kể từ khi thụ lý đến khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán, Thư ký và đương sự đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự, các Điều 384, 387, 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng Dân sự, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Ngọc C, tuyên bố ông Hồ Xuân H mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu nhận định:

. Bà Phạm Thị Ngọc C và ông Hồ Xuân H có tổ chức đám cưới và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố A, tỉnh Long An vào năm 2012. Sau đó vợ chồng bà về Vũng Tàu sinh sống tại địa chỉ số B1725 Chung cư 199 đường N, Phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đến cuối tháng 12-2019, ông H bỏ nhà đi khỏi địa phương từ đó đến nay không có tin tức gì. Từ ngày ông Hồ Xuân H bỏ đi cho đến nay bà C và gia đình đã dùng nhiều biện pháp tìm kiếm ông H nhưng không có kết quả.

. Theo kết quả xác minh của Công an phường M, thành phố V vào ngày 12-12-2022, ông Hồ Xuân H, sinh năm 1982, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số B1725 Chung cư 199 đường N, Phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, ông Hồ Xuân H không còn ở địa chỉ trên từ tháng 12-2019 đến nay, hiện đang ở đâu, làm gì không rõ. Từ xác minh trên có cơ sở xác định, địa chỉ cuối cùng ông H đi khỏi địa phương là B1725 Chung cư 199 đường N, Phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu ban hành Quyết định số 06/2022/QĐ-TA ngày 10-10-2022 về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Hồ Xuân H. Thông báo tìm kiếm này đã được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng là Báo Công lý các số 83 ngày 18-10-2022; số 84 ngày 21-10-2022 và số 85 ngày 25-10-2022; phát thông báo, nhắn tin tại Đài tiếng nói Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh vào các ngày 13, 14 và ngày 15-10-2022. Sau khi đăng thông báo tìm kiếm ông H trên báo, đài, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu không nhận được bất cứ thông tin nào về ông H.

. Theo trình bày của bà C, ông H đã bỏ đi khỏi địa phương từ cuối tháng 12-2019. Kết quả xác minh của Công an phường M, thành phố V vào ngày 12-12-2022 xác nhận, ông H không còn ở địa phương từ tháng 12-2019 đến nay nhưng không biết chính xác ngày. Do vậy, thời hạn ông H đi khỏi địa phương được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo là ngày 01-01-2020. Tính từ thời điểm 01-01-2020 đến ngày bà C có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với ông H thì thời gian ông H đã bỏ đi hơn 02 năm mà vẫn không có tin tức xác thực về việc ông H còn sống hay đã chết nên yêu cầu của bà C về việc tuyên bố ông H mất tích là có cơ sở theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận.

.Về lệ phí việc Dân sự sơ thẩm bà C chịu toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 27, Điều 372, 384, 387, 388 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự và Khoản 1 Điều 36 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Ngọc C về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Hồ Xuân H mất tích.

1. Tuyên bố: Ông Hồ Xuân H, sinh năm 1982, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích B1725 Chung cư 199 đường N, Phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu mất tích.

2. Về lệ phí việc Dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Ngọc C phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0003194 ngày 30-9-2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu, bà C đã nộp xong lệ phí.

3. Chi phí đăng báo, đài: Bà Phạm Thị Ngọc C tự nguyện chịu.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ