vanban.org

Quyết định 02/2023/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đình Đ.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Đình Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số CC/2021/0000292 ngày 22/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Lăng,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Đình Đ "Yêu cầu xác định cha cho con""
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đình Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI LĂNG
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2023/QĐST-HNGĐHải Lăng, ngày 07 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu xác định cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Bùi Diệu Lương.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Huyên - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 19/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Đình Đ; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị L; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

+ Ông Lê Đình C; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

+ Ông Lê Đình C1; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

+ Bà Lê Thị L; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

+ Bà Lê Thị Mỹ H; địa chỉ: Khu phố A 2, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị C; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, bà Lê Thị Mỹ H: Ông Lê Đình C1; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 02/3/2023); có mặt.

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 09/02/2023 và ý kiến tại phiên họp anh Nguyễn Đình Đ trình bày như sau:

Năm 1985, ông Lê Q là người cùng địa phương, có quan hệ tình cảm với bà Nguyễn Thị C và sinh ra anh. Lúc đó, do ông Lê Q đã có gia đình, bà Nguyễn Thị C đã giữ kín mối quan hệ với ông Lê Q nên đặt tên anh lấy theo họ mẹ là Nguyễn Đình Đ. Năm 2018, ông Lê Q chết. Nay bản thân anh đã trưởng thành nên yêu cầu Tòa án xác định ông Lê Q, sinh năm 1954, chết ngày 22/3/2018, nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị là cha đẻ của anh.

Tại các bản trình bày, biên bản họp gia đình, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C, ông Lê Đình C, Lê Đình C1, bà Lê Thị L, Lê Thị Mỹ H và người làm chứng là bà Nguyễn Thị H đều trình bày: Năm 1985, ông Lê Q có quan hệ tình cảm với bà Nguyễn Thị C và sinh một người con trai vào ngày 01/01/1987. Vì lúc đó ông Q đã có gia đình, không muốn làm ảnh hưởng đến gia đình ông Q nên bà C đặt tên con là Nguyễn Đình Đ. Năm 2018, ông Lê Q chết. Trước lúc chết, ông Q có dặn lại với gia đình nhận anh Nguyễn Đình Đ là con đẻ của ông. Bà L và các con của ông Lê Q đã đưa anh Nguyễn Đình Đ về nhìn nhận gia đình, dòng tộc. Nay anh Nguyễn Đình Đ yêu cầu xác định ông Lê Q là cha đẻ, gia đình đều thống nhất xác nhận để anh Đ làm thủ tục nhận cha.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Thư ký tòa án: Thẩm phán và Thư ký tòa án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý việc dân sự đến khi mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết việc dân sự: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, căn cứ khoản 10 Điều 29; khoản 2 Điều 35; khoản 2 Điều 39; Điều 361, 367, 369, 370, 371, 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 90,101,102 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đình Đ, xác định ông Lê Q là cha đẻ của anh Nguyễn Đình Đ. Về lệ phí: Anh Nguyễn Đình Đ phải chịu lệ phí việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Đình Đ yêu cầu Tòa án xác định ông Lê Q, sinh năm 1954, chết ngày 22/3/2018, nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị là cha đẻ của mình, đây là yêu cầu về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị theo quy định tại khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Năm 1985 ông Lê Q có quan hệ tình cảm với bà Nguyễn Thị C và sinh được một người con trai là anh Nguyễn Đình Đ vào ngày 01/01/1987. Năm 2018, ông Lê Q chết.

Xét tại các bản trình bày và biên bản họp gia đình, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm vợ, các con của ông Lê Q là bà Nguyễn Thị L, ông Lê Đình C, Lê Đình C1, bà Lê Thị L, Lê Thị Mỹ H đều xác nhận: Năm 1985 ông Lê Q có quan hệ tình cảm với bà Nguyễn Thị Cvà sinh một người con trai. Do lúc đó ông Q đã có gia đình, bà C muốn giấu mối quan hệ nên đặt tên con theo họ mẹ là Nguyễn Đình Đ. Năm 2018, ông Lê Q chết, trước lúc chết ông Q có dặn lại gia đình nhận anh Nguyễn Đình Đ là con đẻ của ông. Gia đình thống nhất xác nhận sự việc này là sự thật để anh Nguyễn Đình Đ làm thủ tục nhận cha. Lời xác nhận của vợ, các con ông Lê Q phù hợp với lời trình bày của bà Nguyễn Thị C, là mẹ anh Nguyễn Đình Đ và người làm chứng là bà Nguyễn Thị H.

Kết quả xét nghiệm ADN ngày 15/02/2023 của Trung tâm công nghệ di truyền Việt Nam kết luận: Mẫu ADN ký hiệu Nguyễn Đình Đ và mẫu ADN ký hiệu Lê Đình C có cùng huyết thống dòng cha.

Vì vậy, đủ cơ sở để khẳng định ông Lê Q, sinh năm 1954, chết ngày 22/3/2018, nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị là cha đẻ của anh Nguyễn Đình Đ, cần chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đình Đ.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về lệ phí: Anh Nguyễn Đình Đ là người yêu cầu giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 361, 367, 369, 370, 371, 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 90, 101, 102 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đình Đ. Xác định ông Lê Q, sinh năm 1954, nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, chết ngày 22/3/2018, là cha đẻ của anh Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Đình Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số CC/2021/0000292 ngày 22/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Anh Đ đã nộp đủ lệ phí việc dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ