- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố bà Tô mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Trần Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________________ Số: 02/2023/QĐST- DS | Cẩm Phả, ngày 20 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: bà Nguyễn Thị L
Thư ký phiên họp: bà Lê Thị Thanh Th - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên họp: bà Phạm Thị Quỳnh L1 - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 05/2022/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2023/QĐST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: ông Trần Văn M, sinh năm 1967. Nơi thường trú: tổ 6, khu 6, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: chị Trần Thị Thanh Nhàn, sinh năm 1994. Nơi thường trú: tổ 6, khu 6, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (theo Giấy ủy quyền ngày 01/12/2022), có mặt tại phiên họp.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị T, sinh năm 1963; nơi thường trú và nơi cư trú cuối cùng: tổ 6, khu 6, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên họp.
- Người làm chứng:
+ Ông Cao Bá Thăng, sinh năm 1948. Nơi thường trú: tổ 3, khu 6, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên họp (có đơn xin vắng mặt).
+ Bà Nguyễn Thị Do, sinh năm 1957. Nơi thường trú: tổ 3, khu 6, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên họp (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
1-Tại đơn yêu cầu đề ngày 07/10/2022, bản tự khai trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Trần Thị Thanh Nhàn trình bày: cụ Trần Quang Nhuận (sinh năm 1935, đã chết năm 1993) và cụ Phạm Thị Th2 (sinh năm 1942, đã chết năm 1989) có sinh được 04 người con gồm: bà Trần Thị T (sinh năm 1963), ông Trần Văn Bảo (sinh năm 1973, đã chết năm 2000), ông Trần Văn Phương (sinh năm 1975, đã chết năm 2007) và ông Trần Văn M (sinh năm 1967). Khoảng tháng 10/1989 bà Trần Thị T vì cuộc sống khó khăn nên đã bỏ nhà đi làm ăn ở xa, khi đi có nói với gia đình đi sang Trung Quốc làm ăn, kể từ đó đến nay hơn 30 năm không thấy quay trở về, không có bất kỳ một thông tin liên lạc gì với gia đình, mặc dù nhà của ông M không thay đổi chỗ ở vì vẫn ở căn nhà của bố mẹ đẻ của ông M – bà T để lại. Ông M và gia đình đã làm mọi biện pháp tìm kiếm trong thời gian dài như hỏi thăm bạn bè của bà T và nhiều lần thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng vẫn không rõ tung tích. Từ khi bà Trần Thị T đi cho đến nay họ tên bà Trần Thị T vẫn có trong sổ hộ khẩu gia đình ông M. Để đảm bảo quyền lợi cho cả gia đình, ông Trần Văn M yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả tuyên bố bà Trần Thị T (sinh năm 1963; nơi thường trú và nơi cư trú cuối cùng: tổ 6, khu 6, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh) mất tích.
Khi ở nhà bà Trần Thị T chưa kết hôn và cũng không có con chung với ai, bà T cũng không có tài sản riêng nên ông Trần Văn M không yêu cầu giải quyết về phần tài sản và công nợ của bà Trần Thị T.
2- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 361, Điều 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: bà Trần Thị T đã biệt tích 02 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực bà T còn sống hay đã chết. Ông Trần Văn M và gia đình đã thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của Pháp luật. Nhưng đến nay đa quá bốn tháng vẫn không có tin tức gì của bà Trần Thị T. Vì vậy đề nghị Tòa án căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự, Điều 369 và 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự, chấp nhận yêu cầu của ông Cao Văn Ca tuyên bố bà Trần Thị T (sinh năm 1963; nơi thường trú và nơi cư trú cuối cùng: tổ 6, khu 6, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh) mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả nhận định:
Về tố tụng: theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện cụ Trần Quang Nhuận (đã chết) và cụ Phạm Thị Th2 (đã chết) có sinh được 04 người con gồm: bà Trần Thị T, ông Trần Văn Bảo, ông Trần Văn Phương và ông Trần Văn M. Như vậy ông Trần Văn M là em trai của bà Trần Thị T, do đó ông M là người có quyền yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị T mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự.
Bà Trần Thị T là người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại tổ 6, khu 6, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là mất tích theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 362 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung:
Bố mẹ của ông Trần Văn M là cụ Trần Quang Nhuận (đã chết năm 1993) và cụ Phạm Thị Th2 (đã chết năm 1989) có sinh được 04 người con gồm: bà Trần Thị T (sinh năm 1963), ông Trần Văn Bảo (sinh năm 1973, đã chết năm 2000), ông Trần Văn Phương (sinh năm 1975, đã chết năm 2007) và ông Trần Văn M (sinh năm 1967). Trước khi bà T bỏ đi, bà T chưa đăng ký kết hôn với ai, không có con chung với người nào.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị Do và ông Cao Bá Thăng (là những người hàng xóm lâu năm sống bên cạnh nhà ông M, bà T) cùng đều có lời trình bày xác nhận như sau: bà Trần Thị T bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 1989 cho đến nay không thấy quay trở về, gia đình đã tìm nhiều biện pháp để tìm kiếm tin tức, đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng cũng không có tin tức xác thực gì..
Theo xác nhận của Công an phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả và địa phương khối phố thể hiện: bà Trần Thị T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 6, khu 6, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh và ông Trần Văn M là chủ hộ (quyển số 5-k6 trang 78, đăng ký ngày 25/5/2000). Bà T không có mặt tại địa phương nhiều năm nay (ít nhất là 10 năm trở lại đây). Bà T là chị gái của ông Trần Văn M. Bố mẹ và một số người thân của bà T đã mất từ lâu, hiện nay người thân của bà T chỉ còn ông Trần Văn M cùng vợ con ông M.
Đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn M xác nhận: khoảng tháng 10/1989 bà Trần Thị T vì cuộc sống khó khăn nên đã bỏ nhà đi làm ăn ở xa, kể từ đó đến nay hơn 30 năm không thấy quay trở về, không có bất kỳ một thông tin liên lạc gì với gia đình, mặc dù nhà của ông M không thay đổi chỗ ở vì vẫn ở căn nhà của bố mẹ đẻ của ông M – bà T để lại. Ông M và gia đình đã làm mọi biện pháp tìm kiếm trong thời gian dài như hỏi thăm bạn bè của bà T và nhiều lần thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng vẫn không rõ tung tích. Trước khi bà T bỏ đi, bà T chưa đăng ký kết hôn với ai.
Ngày 24/10/2022 Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả ban hành Quyết định số 05/2022/QĐ-TA về việc Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Trần Thị T. Thông báo tìm kiếm tin tức của bà Trần Thị T đã được đăng trên báo Nhân Dân vào các ngày 02,03 và 04 tháng 11 năm 2022, Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOV AMS) vào các ngày 03,04,và 05 tháng 11 năm 2022, Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối Cao. Nhưng đến nay đã quá 04(bốn) tháng kể từ ngày đăng Thông báo lần đầu vẫn không có tin tức gì của bà Trần Thị T.
Như vậy, bà Trần Thị T đã biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù ông Trần Văn M và gia đình đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà T còn sống hay đã chết. Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thấy có đủ căn cứ tuyên bố bà Trần Thị T (sinh năm 1963), nơi cư trú cuối cùng tổ 6, khu 6, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh) mất tích.
Về lệ phí: ông Trần Văn M là người khuyết tật, căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, thì ông M thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng lệ phí Tòa án. Tuy nhiên ông M có đơn đề nghị tự nguyên nộp toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự mặc dù đã được nghe giải thích. Do đó chấp nhận đề nghị của ông M.
Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc yêu cầu tuyên bố mất tích có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; các Điều 367, 370, 371, 372, 388 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Trần Văn M.
Tuyên bố: bà Trần Thị T ( sinh năm 1963). Nơi cư trú cuối cùng: tổ 6 khu 6, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh là mất tích.
Về lệ phí: ông Trần Văn M được miễn nộp tiền lệ phí dân sự (thuộc trưởng hợp người khuyết tật) nhưng ông M xin tự nguyện nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí việc dân sự sơ thẩm, nên được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà ông M đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả theo biên lai thu tiền số 0005214 ngày 12/10/2022.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: ông Trần Văn M được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định giải quyết việc dân sự; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày Quyết định đó được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả được quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh được quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận -TAND tỉnh Quảng Ninh; -VKSND tỉnh Quảng Ninh; -VKSND thành phố Cẩm Phả; -Chi cục THADS TP Cẩm Phả; - UBND phường Quang Hanh; -Người yêu cầu; - Người có quyền và nghĩa vụ liên quan; -Lưu hồ sơ vụ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Nguyễn Thị Loan |