- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "L - H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Lưu Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2023/QĐST- DS | Đ, ngày 30 tháng 6 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Hồng Khánh
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thành Huế
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên họp: Ông Hoàng Đại Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Dân sự thụ lý số 01/2023/TB-TA ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2023/QĐST- VDS ngày 26 tháng 6 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Lưu Thị L, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Xóm LB, xã ĐT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên họp)
Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Anh Bùi Văn Hưng, sinh năm 1983.
Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Xóm HT, xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
(Vắng mặt tại phiên họp)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp người yêu cầu chị Lưu Thị L trình bày:
Chị và anh Bùi Văn Hưng là vợ chồng, anh chị đăng ký kết hôn từ năm 2012 tại UBND xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Viêc kết hôn giữa chị và anh Hưng là tự nguyện được hai bên gia đình đồng ý tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi anh, chị kết hôn thì về sống tại gia đình anh Hưng tại xóm HT, xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Anh chị chung sống được với nhau khoảng 02 tháng thì anh Hưng có nói là đi làm ăn, nhưng từ khi đi làm anh Hưng không về nhà, không có L lạc gì với gia đình. Chị và gia đình đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng không biết anh Hưng ở đâu. Vì vậy, chị đã làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố anh Bùi Văn Hưng mất tích. Chị L xác định, chị và anh Hưng có 01 một con chung là Bùi Nhật Linh, sinh ngày 07/10/2012, không có tài sản chung, nợ chung.
Sau khi thụ lý việc dân sự theo yêu cầu của chị L, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mấy tích. Thông báo được đăng trên Báo Công lý, các số 16, 17, 18 trong các ngày 24/02/2023, ngày 01/3/2023 và ngày 03/03/2023 với nội dung: “Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thông báo cho anh Bùi Văn Hưng, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Xóm HT, xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt tại nơi cư trú từ năm 2012 đến nay không có tin tức gì. Khi biết được thông báo này, đề nghị anh Bùi Văn Hưng L hệ với Tòa án nhân dân huyện Đ theo địa chỉ: Số 09, tổ dân phố Tân Lập, thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để giải quyết việc chị Lưu Thị L, sinh năm 1988, địa chỉ: Xóm LB, xã ĐT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên có đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc ai biết được tin tức của anh Hưng thì báo cho Tòa án nhân dân huyên Đ theo địa chỉ trên; Ủy ban nhân dân xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và người yêu cầu ...”
Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng thông báo lần đầu tiên vẫn không có tin tức gì của anh Bùi Văn Hưng.
Tại phiên họp giải quyết việc dân sự, chị L trình bày:
Sau khi Tòa án ra thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Hưng, chị vẫn tiếp tục tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không biết anh Hưng ở đâu, nên chị giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án tuyên bố anh Bùi văn Hưng, sinh năm 1983 là chồng của chị mất tích theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, chị không yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết việc dân sự:
Về tố tụng: Từ khi nhận đơn yêu cầy, Tòa án đã làm đầy đủ các thủ tục về tiếp nhận đơn và thụ lý việc dân sự đúng quy định. Sau khi thụ lý việc dân sự chị Tâm đã có bản tự khai, Tòa án đã ghi lời khai của đương sự đúng quy định. Tòa án ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, nội dung thông báo được đăng trên báo Công Lý và Đài tiếng nói Việt Nam theo quy định. Hết thời hạn thông báo, tìm kiếm, Tòa án đã mở phiên họp đảm bảo thời gian theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về ý thức chấp hành của đương sự: Chị Lưu Thị L đã nộp đơn, tài liệu, lệ phí đã có bản tự khai và tham gia phiên họp theo quy định.
Về điều luật áp dụng và nội dung: Đề nghị Tòa án căn cứ các điều 27; 35; điểm b, khoản 2 Điều 39; các Điều 149; 370; 371; 372; 389; 390 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về thu nộp án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố mất tích của chị Lưu Thị L, tuyên bố anh Bùi Văn Hưng, sinh năm 1983; Nơi cư trú cuối cùng: Xóm HT, xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mất tích.
2. Về lệ phí: Chị L phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Lưu Thị L có đơn yêu cầu tuyên bố anh Bùi Văn Hưng mất tích. Anh Hưng có hộ khẩu thường trú cuối cùng tại xóm HT, xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nên căn cứ vào khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Về nội dung yêu cầu: Sau khi thụ lý việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án đã xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của anh Hưng, Công an xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cung cấp thông tin: Anh Hưng đã không sinh hoạt, bỏ đi khỏi địa phương, không khai báo theo quy định. Mẹ đẻ anh Hưng là bà Phạm Thị Thắng cung cấp thông tin: Anh Hưng bỏ nhà đi từ năm 2012, đến nay không ai biết ở đâu, anh Hưng không liêc lạc với bà và gia đình.
Quá trình giải quyết việc yêu cầu của chị Lưu Thị L, Tòa án huyện Đ đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 51/2021/DQQ-TA, ngày 15/02/2023 đối với anh Bùi Văn Hưng. Quyết định thông báo được đăng trên báo Công lý trong 03 số L tiếp, các số báo 16, 17 và 18, trong các ngày 24/02/2023, 01/3/2023 và 03/03/2023; phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 30 phút các ngày 25/02/2023, 26/02/2023 và 27/02/2023, hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng thông báo lần đầu tiên trên báo Công lý (24/02/2023) nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Hưng còn sống hay đã chết. Vì vậy, Tòa án mở phiên họp giải quyết việc dân sự: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của chị Lưu Thị L đối với anh Bùi Văn Hưng có căn cứ theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự, cần chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Lưu Thị L tuyên bố anh Bùi Văn Hưng mất tích. Ngoài ra, chị L không có yêu cầu gì khác.
Về lệ phí sơ thẩm: Chị Lưu Thị L phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự; lệ phí đăng thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 27; 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149; 370; 371; 372; 389; 390 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Chấp nhận yêu cầu của chị Lưu Thị L.
1. Tuyên bố: Anh Bùi Văn Hưng, sinh năm 1983. Nơi cư trú cuối cùng: Xóm HT, xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mất tích.
Người bị Tòa án tuyên bố mất tích trở về hoặc người có quyền, lợi ích L quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lưu Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: 0004691 ngày 06/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
3. Quyển kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị Quyết định này theo quy định tại Điều 371, 372 Bộ luật tố tụng dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Đ; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã TL; - Lưu: Hồ sơ | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Hồng Khánh |