- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2023/QĐST-DS | Cẩm Mỹ, ngày 09 tháng 02 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị Thùy Trang
Thư ký phiên họp: Ông Phạm Thái Học - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 132/2022/TLST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2023/QĐST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2023 gồm những người tham gia tố tụng sau:
- Người yêu cầu: anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1991 (vắng mặt).
HKTT và nơi cư trú: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Người bị yêu cầu: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Nơi cư trú cuối cùng: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị H kết hôn vào năm 2011 và đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 206, quyển số 01/2011 ngày 15 tháng 11 năm 2011. Quá trình chung sống có con chung là cháu Nguyễn Dũ Gia M, sinh ngày 30/6/2012. Ngày 05/4/2020 chị Nguyễn Thị H bỏ đi khỏi nơi cư trú tại ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai đến nay không rõ lý do. Anh N cùng gia đình chị H đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm chị H nhưng không có kết quả. Nay anh N yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị H mất tích theo quy định pháp luật. Về biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: anh N không yêu cầu.
* Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý việc dân sự và tại phiên họp đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn N, về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị H mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào ý kiến của kiểm sát viên và kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị H kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 206, quyển số 01/2011 ngày 15 tháng 11 năm 2011, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống, chị H bỏ đi khỏi địa phương từ ngày 05/4/2020 đến nay không rõ tin tức nên anh N làm đơn yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị H mất tích. Vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị H có nơi cư trú cuối cùng tại ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đơn yêu cầu của anh N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng: anh Nguyễn Văn N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vắng mặt anh N.
Về nội dung: Theo xác nhận của Công an xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai vào ngày 24/8/2022 và lời khai của bà Nông Thị C là mẹ ruột của chị H xác nhận chị Nguyễn Thị H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 8, ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai, đã vắng mặt tại địa phương từ tháng 5/2020 đến nay không có tin tức. Tòa án nhân dân huyện C đã tiến hành các thủ tục, thông báo, nhắn tin tìm kiếm trên báo trung ương trong 03 kỳ liên tiếp; đăng tin tìm kiếm chị H trên sóng phát thanh hàng ngày của Đài tiếng nói Việt Nam; thông báo tìm kiếm chị H trên cổng thông tin điện tử UBND tỉnh Đồng Nai và cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân, nhưng đến nay vẫn không có tin tức của chị H. Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự và Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đơn yêu cầu của anh N có căn cứ nên chấp nhận.
Về yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: anh N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về lệ phí: anh N phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149; khoản 2 Điều 367; khoản 1 Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 387; Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 68 của Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Văn N.
Tuyên bố chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993, nơi cư trú cuối cùng: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai mất tích.
2. Về yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: anh Nguyễn Văn N không yêu cầu.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: anh Nguyễn Văn N phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tạm ứng lệ phí mà anh Nguyễn Văn N đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001421 ngày 01 tháng 8 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đồng Nai. Anh Nguyễn Văn N đã nộp đủ lệ phí.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: các đương sự được quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Thời hạn kháng cáo là 10 ngày kể từ ngày người yêu cầu và người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự được tống đạt quyết định hợp lệ theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai được quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND xã S; - VKSND huyện Cẩm Mỹ; - Chi cục THADS huyện CM; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký tên và đóng dấu) Trương Thị Thùy Trang |